Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Các hệ sinh thái mở

Thứ tư - 13/05/2026 06:02
Tổng quan Nghiên cứu của GO-GN. Các hệ sinh thái mở

GO-GN Research Review. 

Open Ecosystems

Kỹ năng người học trong môi trường di động ảo mở

Rajagopal, K., Firssova, O., Op de Beeck, I., Van der Stappen, E., Stoyanov, S., Henderikx, P., & Buchem, I. (2020). Kỹ năng người học trong môi trường di động ảo mở. Nghiên cứu về Công nghệ Học tập, 28. https://doi.org/10.25304/rlt.v28.2254

Được Martin Weller (Đại học Mở, Vương quốc Anh) đánh giá

Bài báo này xem xét quá trình quốc tế hóa trong giáo dục đại học thông qua lăng kính của Di động Ảo - VM (Virtual Mobility) và Giáo dục Mở (OE), mà nó kết hợp thành thuật ngữ Di động Ảo Mở (Open Virtual Mobility). Các tác giả tập trung vào quá trình quốc tế hóa trong phạm vi châu Âu, được khuyến khích thông qua các chương trình như tiến trình Bologna. Thông qua Di động Ảo, "người học đang theo học tại một cơ sở giáo dục đại học - HEI (Higher Educational Institute) có cơ hội tham gia một khóa học tại một cơ sở giáo dục đại học khác theo hình thức trực tuyến". Giáo dục mở, được hiện thực hóa thông qua MOOC và OER, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác và cho phép các HEI châu Âu định vị mình là nhà cung cấp toàn cầu. Hai phương pháp này cung cấp các cách tiếp cận khác nhau đối với quốc tế hóa.

Nghiên cứu đã sử dụng "lập bản đồ khái niệm nhóm" (Kane và Trochim 2007), được mô tả là "một phương pháp hỗn hợp trong đó các phân tích thống kê nâng cao được áp dụng cho dữ liệu định tính". Hai mươi tám người tham gia, đại diện cho các dự án và mạng lưới trong hai lĩnh vực, đã thực hiện quy trình phân loại cần thiết trong lập bản đồ khái niệm.

Từ phân tích này, mười nhóm năng lực Di động ảo mở (Open Virtual Mobility) được xác định, bao gồm "Kỹ năng và thái độ liên văn hóa", "Học tập tự chủ" và "Tư duy mở" (Open-mindedness). Các nhóm này có thể được đặt ở vị trí gần nhau tương đối, tức là mức độ tương quan giữa chúng.

Các tác giả kết luận rằng việc kết hợp VM và giáo dục mở - OE (Open Education) làm nổi bật "một số kỹ năng và năng lực chung của người học". Những năng lực này kết hợp các khía cạnh của ba động lực chính trong giáo dục đại học hiện nay: số hóa, hợp tác và tính mở.

Di động Ảo Mở (Open Virtual Mobility) có thể là một phương pháp hữu ích để định hình OER và OEP trong bối cảnh giáo dục toàn cầu, đặc biệt là với sự gia tăng hợp tác trực tuyến giữa các tổ chức do sự chuyển đổi sang trực tuyến do đại dịch Covid-19 gây ra trên toàn cầu. Phương pháp lập bản đồ khái niệm nhóm (Group Concept mapping) có tiềm năng thú vị để thể hiện các yếu tố khác nhau cấu thành một lĩnh vực như OEP.

 

Giáo dục Mở vì một thế giới tốt đẹp hơn: Chương trình cố vấn thúc đẩy thiết kế và tái sử dụng tài nguyên giáo dục mở cho mục tiêu phát triển bền vững

Urbančič, T., Polajnar, A., & Jermol, M. (2019). Giáo dục Mở vì một thế giới tốt đẹp hơn: Chương trình cố vấn thúc đẩy thiết kế và tái sử dụng tài nguyên giáo dục mở cho mục tiêu phát triển bền vững. Open Praxis, 11(4), 409-426. doi:http://dx.doi.org/10.5944/openpraxis.11.4.1026

Được Beck Pitt (Đại học Mở, Vương quốc Anh) đánh giá

Làm thế nào giáo dục mở có thể đóng góp vào việc thúc đẩy và làm phong phú thêm công việc đang được thực hiện để tiến tới các Mục tiêu phát triển bền vững - SDGs (Sustainable Development Goals) của Liên Hợp Quốc (UN)? Quan trọng hơn, những rào cản tiềm tàng nào có thể tồn tại để hiện thực hóa đầy đủ vai trò của giáo dục mở trong bối cảnh này?

Bài báo này trình bày chương trình Giáo dục Mở vì một thế giới tốt đẹp hơn - OE4BW (Open Education for a Better World), quá trình thành lập và phát triển lặp đi lặp lại thông qua hai chu kỳ cố vấn trong năm 2018 và 2019. Bản thân chương trình tập trung đặc biệt vào nhu cầu đã được xác định là hỗ trợ việc triển khai và phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) thông qua một chương trình cố vấn, trong bối cảnh các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) (đặc biệt là SDG4 về Giáo dục).

Bài báo bắt đầu bằng việc định vị và đặt OER trong bối cảnh nhiều thách thức mà người học và giáo viên phải đối mặt, và là những thách thức mà SDG4 hướng đến giải quyết. Các tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan tốt về OER và các lập luận cơ bản về lý do tại sao OER có thể cung cấp các giải pháp khả thi cho nhiều vấn đề được SDG4 nêu bật, chẳng hạn như việc tiếp cận các tài nguyên. Tuy nhiên, trong khi giáo dục mở có tiềm năng thúc đẩy và giải quyết các vấn đề do SDG4 đặt ra, thì những rào cản tiềm tàng nào có thể cản trở hiệu quả của các phương pháp tiếp cận mở?

Khảo sát các chính phủ quốc gia và một loạt các tổ chức giáo dục trên khắp thế giới về nhận thức và kinh nghiệm của họ về OER cho thấy rằng ở nhiều nơi trên thế giới, việc sử dụng và phát triển OER vẫn còn bị phân mảnh và việc xây dựng năng lực thường bị bỏ qua. Những hiểu biết này xác nhận các nghiên cứu khác trong lĩnh vực này và dẫn đến việc áp dụng khung tham chiếu của Redecker và Punie (2017) để phát triển chương trình cố vấn của sáng kiến OE4BW.

Phần tiếp theo sẽ mô tả chi tiết mô hình OE4BW và quá trình cải tiến lặp đi lặp lại của chương trình thông qua khảo sát và phản hồi chi tiết từ người hướng dẫn và người được hướng dẫn sau hai chu kỳ triển khai. Mặc dù những người tham gia từ cả hai chu kỳ đều đã có những trải nghiệm tích cực về sự tham gia của họ vào chương trình, nhưng những cải tiến đã được thực hiện để đảm bảo tính bền vững lâu dài của OE4BW. Sau chu kỳ đầu tiên, những cải tiến bao gồm việc duy trì sự đa dạng của người tham gia chương trình và đảm bảo điều này được phản ánh trong các mối quan hệ đối tác được chỉ định và quản lý dự án, đặc biệt là do tính chất tự nguyện của chương trình. Những thay đổi này đối với chương trình đã mang lại kết quả tốt. Hơn nữa, sự cam kết của người tham gia đối với chương trình được thể hiện rõ ràng qua sự tham gia liên tục của những người đã tham gia chu kỳ đầu tiên, với việc các nhà phát triển/người được hướng dẫn tham gia vào các vai trò khác hoặc người hướng dẫn đăng ký lại để tham gia chương trình.

Mặc dù tập trung vào sáng kiến OE4BW, nhưng những kinh nghiệm và khuyến nghị được nêu trong bài báo này có ý nghĩa rộng hơn, đặc biệt là liên quan đến việc phát triển các chương trình hướng dẫn tự nguyện không được tài trợ tương tự và minh họa các thực tiễn tốt để hỗ trợ người khác trong nhiều bối cảnh khác nhau. Việc nhân rộng chương trình để trực tiếp nhắm mục tiêu và thúc đẩy các Mục tiêu Phát triển Bền vững khác cũng khả thi. Như các tác giả đã lưu ý, tác động lâu dài của chương trình đối với người tham gia và việc triển khai OER cần được nghiên cứu thêm, và đây sẽ là một phần quan trọng để hiểu được tính bền vững và sự bền lâu của mô hình được sử dụng.

 

Làm thế nào để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học? Một nghiên cứu trường hợp về tài nguyên giáo dục mở

Wong, T., Xie, H., Zou, D. et al. (2020). Làm thế nào để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học? Một nghiên cứu trường hợp về tài nguyên giáo dục mở. Tạp chí Máy tính trong Giáo dục 7, 51–77. https://doi.org/10.1007/s40692-019-00138-4

Được Robert Farrow (Đại học Mở, Vương quốc Anh) đánh giá

Nghiên cứu này sử dụng tài nguyên giáo dục mở (OER) làm trọng tâm để điều tra khả năng tự điều chỉnh của người học. Đây là một mối quan tâm kịp thời và phù hợp. Như các tác giả đã lưu ý, ngày càng có nhiều OER hỗ trợ quá trình học tập. Vì việc học tập không chính quy diễn ra ngoài tầm với của hầu hết các nghiên cứu, nên cần nhiều nghiên cứu hơn để hiểu cách OER được sử dụng bên ngoài các tổ chức.

Nghiên cứu này xem xét ba khía cạnh của việc tự học: động lực học tập, lập kế hoạch và quản lý, và tự giám sát. Ba cuộc khảo sát (N = 149, N = 168, N = 150) đã được sử dụng để điều tra những khía cạnh này và các nhóm thảo luận được thực hiện sau đó.

Trọng tâm của thí nghiệm là dự án i-Classroom, một sáng kiến “lớp học di động” ở Hồng Kông cung cấp cho học sinh tiểu học một loạt các tài nguyên giáo dục mở (chủ yếu là nội dung video) và sự hỗ trợ từ giảng viên dưới hình thức đánh giá, thảo luận và tư vấn.

Có thể nói, mức độ hỗ trợ này cao hơn hầu hết các hình thức học tập không chính quy, và giống với mô hình “Lớp học đảo ngược” (Flipped Classroom) (Brame, 2013; Mazur, 2009; Uzunboylu & Karagozlu, 2015). Tuy nhiên, việc tìm cách hỗ trợ học tập tự điều chỉnh vẫn rất quan trọng.

Các cuộc khảo sát chủ yếu dựa trên thang đo Likert 5 điểm. Kết quả rất thú vị. Học sinh có điểm cao hơn thường có động lực học tập thấp hơn (mặc dù điều này có xu hướng cải thiện theo thời gian). Học sinh có điểm thấp hơn có xu hướng mất động lực khi đối mặt với khó khăn hoặc trở ngại. Về lập kế hoạch và thực hiện, những học sinh cảm thấy mình có kết quả học tập tốt hơn có khả năng quản lý việc học tốt hơn, nhưng một số học sinh cảm thấy mình có kết quả học tập kém hơn lại tự đánh giá cao hơn về năng lực lập kế hoạch. Hầu hết học sinh cảm thấy tự tin trong việc tự đánh giá, mặc dù sự tự tin này giảm đi khi điểm số thấp hơn. Rất nhiều chi tiết về các kết quả thống kê này được cung cấp trong bài báo. Các cuộc phỏng vấn tiếp theo chỉ ra một số chiến lược được sử dụng trong việc tự điều chỉnh, nhưng, như có thể dự đoán ở người học ở độ tuổi này, chúng khá ngắn gọn.

Chủ nghĩa kết nối (Connectivism, Siemens, 2005) được sử dụng làm khung lý thuyết để hiểu các kết quả trong bối cảnh môi trường học tập trực tuyến mở. Những người quan tâm đến các chiến lược sử dụng Tài nguyên Giáo dục Mở (OER) có thể không tìm thấy chúng trong bài báo này, vì bài báo tập trung nhiều hơn vào việc tự học và cách sử dụng công nghệ có thể hỗ trợ việc này. Trên thực tế, tính mở của các nguồn tài nguyên dường như chỉ là yếu tố ngẫu nhiên.

Động lực được xác định là một khía cạnh quan trọng của việc tự học, và các tác giả đưa ra giả thuyết rằng áp lực mà hệ thống giáo dục Hồng Kông đặt ra - ngay cả đối với người học trẻ tuổi - có thể thực sự cản trở việc học tập thông qua việc gây gia tăng lo lắng và trì hoãn. Quan trọng hơn, những người có sự tự tin để tiếp cận người khác để xin lời khuyên và hỗ trợ có thể có lợi thế theo hai cách: trực tiếp, thông qua sự hỗ trợ được cung cấp; và thông qua việc phát triển siêu nhận thức về quá trình học tập.

---------------------------------------------------

Thừa nhận: 

Nội dung này được dịch từ tài liệu của các tác giả: Farrow, R. (ed.), Weller, M., Pitt, R., Iniesto, F., Algers, A., Almousa, S., Baas, M., Bentley, P., Bozkurt, A., Butler, W., Cardoso, P., Chtena., N., Cox, G., Czerwonogora, A., Dabrowski, M.T., Derby, R., DeWaard, H., Elias, T., Essmiller, K., Funk, J., Hayman, J., Helton, E., Huth, K., Hutton, S. C., Iyinolakan, O., Johnson, K. R., Jordan, K., Kuhn, C., Lambert, S., Mittelmeier, J., Nagashima, T., Nerantzi, C., O’Reilly, J., Paskevicius, M., Peramunugamage, A., Pete, J., Power, V., Pulker, H., Rabin, E., Rets, I., Roberts, V., Rodés, V., Sousa, L., Spica, E., Vizgirda, V., Vladimirschi, V., & Witthaus, G. (2023). Sổ tay Nghiên cứu Mở của GO-GN.

Mạng lưới Cao học Toàn cầu về Tài nguyên Giáo dục Mở / Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Mở.

https://go-gn.net/gogn_outputs/open-research-handbook/.

 Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế


---------------------------------------------------

VỀ TRANG MỤC LỤC

VỀ TRANG TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA GO-GN

---------------------------------------------------

Xem thêm: 

Tác giả: Nghĩa Lê Trung

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Về Blog này

Blog này được chuyển đổi từ http://blog.yahoo.com/letrungnghia trên Yahoo Blog sang sử dụng NukeViet sau khi Yahoo Blog đóng cửa tại Việt Nam ngày 17/01/2013.Kể từ ngày 07/02/2013, thông tin trên Blog được cập nhật tiếp tục trở lại với sự hỗ trợ kỹ thuật và đặt chỗ hosting của nhóm phát triển...

Bài đọc nhiều nhất trong năm
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập61
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm51
  • Hôm nay5,574
  • Tháng hiện tại501,505
  • Tổng lượt truy cập52,282,806
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây