Giáo dục mở ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp

Thứ bảy - 21/04/2018 05:26
Giáo dục mở ở Việt Nam: Thách thức và giải pháp
(Bài viết được đăng trên tạp chí Tia Sáng, bản điện tử trên trực tuyến xuất bản ngày 14/04/2018 tại địa chỉ:

 
Lê Trung Nghĩa
Hơn 4 năm đã trôi qua kể từ ngày Nghị quyết số 29-NQ-TW được ban hành về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” với quan điểm chỉ đạo là “đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở”... tuy nhiên chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về hệ thống giáo dục mở và quá trình thúc đẩy tài nguyên giáo dục mở (TNGDM). Bài viết này nhận diện các thách thức đó và đề xuất giải pháp để thúc đẩy TNGDM ở Việt Nam.
Giáo dục mở là gì?
Trên thế giới, đang phổ biến các định nghĩa về giáo dục mở của Bộ Giáo dục Mỹ, SPARC - liên minh toàn cầu cam kết làm cho Mở thành mặc định cho nghiên cứu và giáo dục và Opensource.com - trang xuất bản các câu chuyện về việc áp dụng và chia sẻ giải pháp nguồnmở. Tựu trung, họ đều cho rằng giáo dục mở là việc loại bỏ các rào cản tài chính, pháp lý và kỹ thuật để truy cập được tới các tài nguyên giáo dục, các tài nguyên phục vụ cho việc dạy, việc học và việc nghiên cứu, và rộng lớn hơn là để truy cập tới được tri thức của nhân loại. Bằng việc loại bỏ các rào cản truy cập tới tri thức đó, cơ hội được giáo dục sẽ là sẵn sàng cho tất cả những người học, bất kể họ là ai, bất kể tình trạng kinh tế của họ ra sao. Vì vậy, hệ thống giáo dục mở, từ quan điểm của thế giới nguồn mở, chính là hệ thống giáo dục không có các rào cản được nêu ở trên.
TNGDM (OER - Open Educational Resources) là phong trào toàn cầu khởi đầu vào năm 2001 khi Viện Công nghệ Massachusetts ở Mỹ đã đưa ra chương trình OpenCourseWare (Khóa học Mở) với vài chục khóa học trực tuyến và năm 2002 UNESCO đưa rakhái niệm TNGDM là bất kỳ dạng tư liệu giáo dục nào nằm trong phạm vi công cộng hoặc được cấp một giấy phép mở. Các tư liệu mở đó ngụ ý bất kỳ ai cũng có thể hợp pháp và tự do sao chép, sử dụng, tùy biến thích nghi và sử dụng lại chúng. TNGDM gồm nhiều loại từ sách giáo khoa (SGK) đến chương trình đào tạo, đề cương môn học, bài giảng, bài tập, bài kiểm tra, báo cáo, âm thanh, hình ảnh và hoạt hình”.
Rất cần phải thúc đẩy giáo dục mở ở Việt Nam, bởi chỉ giáo dục mở mới đảm bảo được cho từng công dân Việt Nam có khả năng có được tri thức nhân loại lớn nhất với chi phí nhỏ nhất và với số lượng người được tiếp cận các tri thức lớn nhất và là cách nhanh nhất để có được các kỹ năng cần thiết để sống, làm việc và học tập trong kỷ nguyên số - kỷ nguyên tri thức.
Những rào cản với TNGDM Việt Nam
Chưa thay đổi nhận thức về TNGDM
Cả các khóa học mở và TNGDM đều đã tới Việt Nam từ khá sớm, từ khoảng những năm 2005, mặc dù vậy, cho tới nay, TNGDM hầu như không phát triển ở Việt Nam, trong tất cả các cơ sở giáo dục ở mọi cấp trong toàn quốc, cả khu vực tư nhân và nhà nước.
Đầu tiên, hai dự án về OpenCourseWare và TNGDM đã vào Việt Nam từ năm 2005, nhưng hai tác nhân quan trọng nhất là Hội Thư viện Việt Nam (nơi tập trung hầu hết các thư viện các trường đại học trong cả nước) và VFOSSA (nơi tập trung nhiều công ty cung cấp các giải pháp/sản phẩm/dịch vụ dựa vào phần mềm tự do nguồn mở) đều chưa từng bao giờ biết tới 2 dự án này.
Phải tới 2015, 2 tác nhân này, đặc biệt là khối thư viện mới có những hoạt động về TNGDM tích cực hơn, điển hình là các Hội thảo quốc tế về TNGDM trong 3 năm liền với sự tham gia và cả tài trợ (các năm 2016-2017) của UNESCO và một vài đối tác nước ngoài khác; bên cạnh đó khối thư viện còn có các hoạt động nâng cao nhận thức sơ bộ ban đầu về TNGDM thông qua các cuộc hội thảo, các khóa huấn luyện ngắn ngày. Tuy nhiên, việc thực hiện TNGDM ở các thư viện, các trường đại học vẫn còn rất nhiều hạn chế, theo kết quả một báo cáomới đây do Khoa Thông tin – Thư viện, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội thực hiện dưới sự tài trợ của Văn phòng UNESCO. Cụ thể:
  • Xu thế sử dụng tài liệu số đang gia tăng. Giảng viên và sinh viên đã coi các nguồn học liệu số là kênh khai thác thông tin thuận tiện và hữu hiệu. Có thể coi đây là “văn hóa số” – điều kiện thuận lợi để phát triển TNGDM. Tuy nhiên, việc sử dụng TNGDM ở các trường đại học chưa phổ biến. Phần lớn chỉ khai thác các nguồn thông tin miễn phí trên mạng, rất ít các trường đại học triển khai TNGDM trong đơn vị mình, hầu hết giảng viên cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí, chưa ý thức được việc tạo lập và chia sẻ TNGDM.
  • Các trường đại học đã có những nhận thức và hiểu biết cơ bản TNGDM. Tuy nhiên việc thực thi bản quyền tại các trường đại học chưa được coi trọng, thư viện đặt kế hoạch số hóa tài liệu nhưng chưa quan tâm nhiều đến vấn đề bản quyền. Bên cạnh đó hiểu biết của họ về giấy phép mở (creative commons) chưa đầy đủ.
  • Chưa tin tưởng về lợi ích và giá trị mà TNGDM mang lại. Do TNGDM là một nguồn học liệu mới, chưa phổ biến và có cách tiến cận hoàn toàn khác so với việc phải bỏ tiền mua các tài liệu do các nhà xuất bản phát hành. Nhiều người nghi ngờ, liệu chất lượng TNGDM có thực sự tốt và nguồn tài nguyên này có làm thay đổi cách chúng ta tiếp cận tri thức cũng như hỗ trợ nâng cao chất lượng đào tạo hay không.
Báo cáo cũng khảo sát về nguồn nhân lực chuẩn bị cho sự phát triển của TNGDM, gồm giảng viên, nhân viên thư viện và sinh viên. Trong đó, đa phần giảng viên cho rằng sự thiếu nhận thức về TNGDM là nguyên nhân chủ yếu nhất cản trở việc tạo lập và phát triển TNGDM ... Có thể nói, TNGDM vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam hiện nay, và việc truyền thông, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao nhận thức về vấn đề này sẽ trở thành chìa khóa cho việc triển khai phát triển TNGDM tại Việt Nam. Đối với các cán bộ thư viện, cản trở lớn nhất là thiếu kinh phí, sau đó là các rào cản về pháp lý, quyền sở hữu, bản quyền trong phát triển TNGDM... Đây cũng là hai lo ngại xuất phát từ chính bản chất công việc của cán bộ thư viện, vốn dĩ cũng là hai vấn đề lớn của ngành thư viện Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Đối với các sinh viên, trở ngại