Theo: https://www.jisc.ac.uk/guides/open-educational-resources/oer-use-and-re-use
Xem thêm: Giáo dục mở và tài nguyên, giấy phép tư liệu mở;
Có sự thiếu hụt bằng chứng mạnh xung quanh cách mà tài nguyên giáo dục mở được sử dụng và sử dụng lại. Là khá dễ dàng để bám theo các giá trị đo đếm như số lượng các bản tải về các tư liệu, thời gian bỏ ra trên site và vị trí của các khách viếng thăm, nhưng thách thức hơn để tìm ra nếu và làm thế nào chúng thực sự đã được sử dụng.
Các hệ thống bình luận và xếp hạng đánh giá có thể được sử dụng nhưng, một lần nữa, không nhất thiết là sự đảm bảo của việc sử dụng.
Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) có cam kết dài lâu cho việc phát hành các OER theo chương trình 'Khóa học Mở' (OpenCourseWare). Đánh giá của họ năm 2005 đối với tính hiệu quả và các kết quả đầu ra của chương trình là có sẵn như một báo cáo tóm tắt [PDF] hoặc báo cáo đầy đủ [PDF]. Báo cáo năm 2009 hiện chỉ có sẵn như là báo cáo tóm tắt [PDF].
Báo cáo của JISC về tái mục đích và sử dụng lại các nội dung số mức đại học và đánh giá - RePRODUCE (re-purposing and re-use of digital university-level content and evaluation) đã tóm tắt các phát hiện của 20 dự án nhằm “phát triển, quản lý và đảm bảo chất lượng cho các khóa học được công nghệ cải thiện bằng việc sử dụng các tư liệu học tập được sử dụng lại và được tái mục đích có nguồn từ bên ngoài đối với cơ sở của họ”.
Đại học Mở quản lý Đánh giá tác động liên tục lên sử dụng bản chào iTunesU của họ.
Dự án ORIOLE, đặt ở Đại học Mở có trọng tâm vào việc nghiên cứu điều tra, hiểu biết và phổ biến về sử dụng và sử dụng lại các tài nguyên số trên trực tuyến trong việc học và dạy.
Chương trình UKOER Hàn lâm/JISC (2009-2012) đã cân nhắc các dạng OER nào là phù hợp cho các nhóm các bên tham gia đóng góp khác nhau và đã cân nhắc các vấn đề xung quanh độ mịn, ngữ cảnh sư phạm, khả năng phát hiện, khả năng truy cập và sử dụng lại.
Pha 2 đã đưa ra vài sự thấu hiểu thú vị liên quan tới OER trong các yêu cầu và cân nhắc đối với các chuyên ngành theo chủ đề và pha 3 đã xem xét các nhu cầu của một dải thú vị các nhóm các bên tham gia đóng góp khác nhau (bao gồm cả các hướng dẫn viên bán thời gian ở các trường, khu vực nhà nước, NHS, khu vực tư nhân - bao gồm cả các nhà xuất bản thương mại).
Các vấn đề thực hành có liên quan tới những điều ở trên có thể thấy trong Sổ tay OER .
Pha 2 của chương trình UKOER bao gồm 2 nghiên cứu về sử dụng:
Sử dụng của người học các tài nguyên giáo dục trên trực tuyến cho việc học tập - LUOER (Learner use of online educational resources for learning) của Paul Bacsich, Barry Phillips và Sara Frank Bristow, tháng 09/2011
Nghiên cứu ảnh hưởng của OER: báo cáo nghiên cứu. Liz Masterman và Joanna Wild của Đại học Oxford, tháng 07/2011
There is a lack of strong evidence around how open educational resources are used and reused. It is relatively easy to track and measure metrics such as number of downloads of materials, time spent on site and location of visitors, but more challenging to find out if and how they have actually been used.
Comment and rating systems may be used but, again, are not necessarily a guarantee of use.
Massachusetts Institute of Technology has a long-standing commitment to releasing OERs under the ‘OpenCourseWare’ programme. Their 2005 evaluation as to the programme’s effectiveness and outcomes is available as an summary [PDF] or full report [PDF]. The 2009 report is currently only available as a summary [PDF].
Jisc’s re-purposing and re-use of digital university-level content and evaluation (RePRODUCE) summarized the findings of 20 projects that aiming “to develop, run and quality assure technology enhanced courses using reused and repurposed learning materials sourced externally to their institution.”
The Open University run an ongoing Impact evaluation on use of their iTunesU offering.
The ORIOLE project, based at the Open University has a focus on investigating, understanding and disseminating about use and reuse of digital online resources in learning and teaching.
The Jisc/ Academy UKOER programme (2009-2012) considered which kinds of OER are relevant to different stakeholder groups and considered issues around granularity, pedagogic context, discoverability, accessibility and re-use.
Phase two offered some interesting insights into OER requirements and considerations for different subject disciplines and phase three looked at needs of an interesting range ofdifferent stakeholder groups (including part-time tutors, in , schools, public sector, NHS, private sector (including commercial publishers).
Practical issues relating to the above can be found in wiki educator’s OER handbook.
Phase two of the UKOER programme included two research studies around use:
Learner use of online educational resources for learning (LUOER) Paul Bacsich, Barry Phillips and Sara Frank Bristow Sept 2011
OER impact study: research report. Liz Masterman and Joanna Wild University of Oxford, July 2011
Dịch: Lê Trung Nghĩa
Ý kiến bạn đọc
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn
Blog này được chuyển đổi từ http://blog.yahoo.com/letrungnghia trên Yahoo Blog sang sử dụng NukeViet sau khi Yahoo Blog đóng cửa tại Việt Nam ngày 17/01/2013.Kể từ ngày 07/02/2013, thông tin trên Blog được cập nhật tiếp tục trở lại với sự hỗ trợ kỹ thuật và đặt chỗ hosting của nhóm phát triển...
DigComp 3.0: Khung năng lực số châu Âu
Các bài toàn văn trong năm 2025
Các bài trình chiếu trong năm 2025
Các lớp tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ tới hết năm 2025
Tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ cho giáo viên phổ thông, bao gồm cả giáo viên tiểu học và mầm non tới hết năm 2025
Các tài liệu dịch sang tiếng Việt tới hết năm 2025
Loạt bài về AI và AI Nguồn Mở: Công cụ AI; Dự án AI Nguồn Mở; LLM Nguồn Mở; Kỹ thuật lời nhắc;
Tổng hợp các bài của Nhóm các Nhà cấp vốn Nghiên cứu Mở (ORFG) đã được dịch sang tiếng Việt
Tổng hợp các bài của Liên minh S (cOAlition S) đã được dịch sang tiếng Việt
Năm Khoa học Mở & Chuyển đổi sang Khoa học Mở - Tổng hợp các bài liên quan
Bạn cần biết những gì về các khung năng lực AI mới của UNESCO cho học sinh và giáo viên
Bàn về 'Lợi thế của doanh nghiệp Việt là dữ liệu Việt, bài toán Việt' - bài phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ngày 21/08/2025
Khung năng lực AI cho giáo viên
‘Khung năng lực AI cho giáo viên’ - bản dịch sang tiếng Việt
‘KHUYẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG DẪN TRUY CẬP MỞ KIM CƯƠNG cho các cơ sở, nhà cấp vốn, nhà bảo trợ, nhà tài trợ, và nhà hoạch định chính sách’ - bản dịch sang tiếng Việt
Mark Zuckerberg: DeepSeek cho thấy vì sao nước Mỹ phải là ‘tiêu chuẩn nguồn mở toàn cầu’ của AI; không có lý do gì để suy nghĩ lại về việc chi tiêu
50 công cụ AI tốt nhất cho năm 2025 (Đã thử và kiểm nghiệm)
DeepSeek đã gây ra sự hoảng loạn trên thị trường — nhưng một số người cho rằng việc bán tháo là quá mức
Nhà khoa học AI hàng đầu của Meta cho biết thành công của DeepSeek cho thấy 'các mô hình nguồn mở đang vượt trội hơn các mô hình độc quyền'
“Chúng tôi không có hào nước”: Sự đổi mới đột phá của AI nguồn mở
‘Đặc tả Khung Tính mở Mô hình (MOF)’ của LF AI & Data - Tài sản chung của AI Tạo sinh - bản dịch sang tiếng Việt
‘LỘ TRÌNH CỦA TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC VỀ HỢP TÁC KỸ THUẬT SỐ THÚC ĐẨY HÀNG HÓA CÔNG CỘNG KỸ THUẬT SỐ’ - bản dịch sang tiếng Việt
AI trong TVET - Một vài gợi ý triển khai trong thực tế
Dữ liệu để phân loại AI
Tài sản chung kỹ thuật số và Hàng hóa Công cộng Kỹ thuật số - Tìm thấy nền tảng chung cho các nhà hoạch định chính sách
Khung năng lực AI cho học sinh
Nếu DeepSeek muốn trở thành một người phá vỡ thực sự, nó phải tiến xa hơn nữa về tính minh bạch của dữ liệu
Mark Zuckerberg nói Meta có kế hoạch chi hơn 60 tỷ USD khi Thung lũng silicon hoảng loạn về sự cạnh tranh của AI Trung Quốc
‘Xây dựng cách tiếp cận minh bạch dữ liệu AI lấy người dùng làm trung tâm’ - bản dịch sang tiếng Việt
Tọa đàm ‘Vai trò của Tài nguyên Giáo dục Mở trong chuyển đổi số giáo dục đại học’ tại Viện Chuyển đổi số và Học liệu - Đại học Huế, ngày 12/09/2025