2. DIGCOMP 3.0 FRAMEWORK COMPONENTS
2.6 AI competence in DigComp 3.0
DigComp 3.0 được xây dựng dựa trên công trình ban đầu của DigComp 2.2 để hệ thống hóa việc bao gồm các khía cạnh của năng lực AI có liên quan đến việc phát triển năng lực số của cá nhân. Năng lực AI gắn liền và được xây dựng trên các yếu tố khác của năng lực số, vì các hệ thống AI được phổ biến rộng rãi và ngày càng được tích hợp vào các công nghệ số hiện có. Trong DigComp 3.0, AI được coi là một công nghệ số trong số nhiều công nghệ số khác, đồng thời vẫn tập trung vào chính các năng lực số.
Một số định nghĩa và phân tích về việc hiểu biết năng lực AI đã được đề xuất, từ tài liệu (ví dụ: Touretzky et al. 2019, 2023; Long & Magerko, 2020; Ng et al., 2021); luật pháp (Đạo luật AI năm 2024, Quy định (EU) 2024/1689); các khung năng lực hiểu biết về AI gần đây (ví dụ: OECD, 2025; Mills et al., 2024; UNESCO, 2024); và các báo cáo chính sách (ví dụ: Miao et al., 2022; Di Vinadio et al., 2022). Các nguồn tài liệu khác nhau này nhấn mạnh sự hiểu biết về mặt khái niệm về AI là gì (và không phải là gì), bối cảnh ứng dụng của nó, và các phương pháp tiếp cận mang tính phản biện, có đạo đức và có trách nhiệm đối với việc sử dụng AI. Những đặc điểm này được phản ánh trong DigComp 3.0.
Để đảm bảo rằng năng lực AI được tích hợp tốt trong DigComp 3.0, JRC, cùng với các chuyên gia, đã tiến hành xem xét các xu hướng công nghệ kỹ thuật số gần đây và mới nổi, cũng như lập bản đồ giữa các năng lực của khung năng lực hiểu biết về AI (dự thảo) của Ủy ban Châu Âu-OECD (OECD, 2025) và DigComp 3.0 (xem Phụ lục 3 để biết thêm chi tiết).
Trong DigComp 3.0, chúng tôi định nghĩa AI theo Đạo luật AI (Điều 3(1)):
...một hệ thống dựa trên máy móc được thiết kế để hoạt động với các mức độ tự chủ khác nhau, có thể thể hiện khả năng thích ứng sau khi triển khai và, vì các mục tiêu rõ ràng hoặc ngầm định, suy luận từ đầu vào nhận được cách tạo ra đầu ra, chẳng hạn như dự đoán, nội dung, khuyến nghị hoặc quyết định có thể ảnh hưởng đến môi trường vật lý hoặc ảo. Định nghĩa này xem xét theo vòng đời, bao gồm cả các giai đoạn trước khi triển khai và triển khai10.
Trong DigComp 3.0, các thuật ngữ ‘AI’ và ‘hệ thống AI’ được sử dụng theo nghĩa rộng và bao gồm cả AI tạo sinh (hệ thống). Tuy nhiên, việc đề cập đến AI tạo sinh trong DigComp 3.0 chỉ được thực hiện khi nó được coi là có liên quan trọng tâm đến một năng lực cụ thể. Trong DigComp 3.0, AI tạo sinh (Generative AI) được định nghĩa là một tập hợp con của AI sử dụng các mô hình máy học chuyên biệt được thiết kế để tạo ra nhiều loại đầu ra đa dạng và tổng quát, có khả năng thực hiện nhiều nhiệm vụ và ứng dụng, chẳng hạn như tạo ra văn bản, hình ảnh hoặc âm thanh (Abendroth-Dias et al., 2025).
Các tuyên bố năng lực (ở Phần 3) đề cập rõ ràng đến hệ thống AI được gắn nhãn ‘[AI-E]’ (AI-rõ ràng [AI-Explicit]), trong khi những tuyên bố mà AI hoặc hệ thống AI có liên quan một cách ngầm định nhưng không đề cập rõ ràng đến hệ thống AI được gắn nhãn ‘[AI-I]’ (AI-ngầm định [AI-Implicit]). Tương tự, các chuẩn đầu ra học tập riêng lẻ (Phụ lục 2) được gắn nhãn là AI-Rõ ràng, AI-Ngầm định, hoặc AI không Ngầm định hay Rõ ràng.
------------------------------------------------------------------------
10. Xem Hướng dẫn về định nghĩa hệ thống trí tuệ nhân tạo để biết thêm chi tiết (Ủy ban Châu Âu, 2025f).
------------------------------------------------------------------------
Hộp 3 bổ sung thông tin về ý nghĩa của AI-rõ ràng và AI-ngầm định trong DigComp 3.0.
Hộp 3. Năng lực AI rõ ràng và ngầm định trong DigComp 3.0.
DigComp 3.0 phân biệt giữa năng lực AI-rõ ràng và AI-ngầm định trong các tuyên bố năng lực và chuẩn đầu ra học tập.
Trong số 362 tuyên bố về năng lực trong DigComp 3.0 (Phần 3), 14% (50) là AI-rõ ràng, 68% (246) là AI-ngầm định và 18% (67) không đề cập đến AI rõ ràng hoặc ngầm định.
Trong số 523 chuẩn đầu ra học tập trong DigComp 3.0 (Phụ lục 2), 13% (69) là AI-rõ ràng, 63% (330) là AI-ngầm định, và 24% (124) không đề cập đến AI rõ ràng hoặc ngầm định.
Năng lực AI được thể hiện rõ ràng, ngầm định hoặc cả hai, khắp tất cả 21 năng lực. Điều này chứng minh tác động xuyên suốt của hệ thống AI đối với năng lực số. Các khía cạnh của năng lực AI không rõ ràng hoặc ngầm định là những khía cạnh liên quan đến các công nghệ kỹ thuật số khác ngoài AI hoặc vốn dĩ mang tính chất “con người”, đòi hỏi các thuộc tính như lựa chọn, sở thích hoặc đánh giá tình huống.
Việc dán nhãn AI cho các tuyên bố năng lực trong Phần 3 và các chuẩn đầu ra học tập trong Phụ lục 2 là AI-rõ ràng hoặc AI-ngầm định chỉ nhằm mục đích hướng dẫn chung.
AI-rõ ràng hay [AI-E] có nghĩa là hệ thống AI có liên quan trực tiếp đến năng lực đó.
Trong khi đó, AI-ngầm định hay [AI-I] áp dụng cho các năng lực vì một hoặc vài trong số bốn lý do. Tuyên bố năng lực hoặc chuẩn đầu ra học tập có thể:
Liên quan đến việc sử dụng hệ thống AI như một trong các công nghệ số có sẵn
Ví dụ (xem Phần 3, Tuyên bố năng lực 2.2.08): Một người đang cố gắng quyết định xem có nên sử dụng hệ thống AI cho nhiệm vụ tạo lập nội dung hay không. Để làm được điều đó, họ cần xác định kết quả đầu ra mong muốn và xem xét những lợi ích bổ sung khi sử dụng hệ thống AI so với một công nghệ kỹ thuật số khác.
Liên quan đến việc sử dụng một công nghệ kỹ thuật số có chức năng hệ thống AI được tích hợp sẵn
Ví dụ (xem Phần 3, Tuyên bố năng lực 2.4.08): Một công cụ cộng tác có chức năng ghi chú do AI điều khiển. Một người cần quyết định xem có nên sử dụng nó cho một cuộc họp hay không. Để làm được điều đó, họ cần xem xét loại biên bản cuộc họp nào cần thiết và những lợi ích nào mà chức năng ghi chú do AI điều khiển có thể mang lại so với việc ghi chú bằng tay của con người.
Liên quan đến việc hiểu về cách thức hoạt động của hệ thống AI
Ví dụ (xem Phần 3, Tuyên bố năng lực 2.1.14): Một người có một văn bản dài cần đọc và đang cân nhắc sử dụng hệ thống AI để giúp tóm tắt. Nếu họ quyết định sử dụng AI, họ cần lựa chọn một công cụ AI phù hợp. Họ cũng cần có năng lực để thiết kế các đầu vào hoặc lệnh (lời nhắc) phù hợp, thử nghiệm với việc soạn thảo lại cả lời nhắc và kết quả đầu ra, và kiểm tra chất lượng và độ chính xác của kết quả đầu ra.
và/hoặc
Liên quan đến các tác động cá nhân, đạo đức hoặc xã hội của hệ thống AI
Ví dụ: Khi lựa chọn sử dụng hệ thống AI cho nhiệm vụ tạo lập nội dung (trong ví dụ (I) ở trên) hoặc cho nhiệm vụ tóm tắt văn bản (ví dụ (III)), cá nhân cần đảm bảo rằng việc sử dụng hệ thống AI là minh bạch và có xem xét đến tác động đến môi trường - điều mà người dùng cá nhân không thể nhận thấy ngay lập tức. Khi lựa chọn sử dụng chức năng ghi chú do AI điều khiển (ví dụ (II)), cần có sự đồng ý của những người tham dự cuộc họp và nếu chủ đề cuộc họp nhạy cảm, cần phải xem xét các vấn đề về quyền riêng tư.
Nguồn: JRC tự biên soạn.
----------------
Thừa nhận:
Nội dung này được dịch từ tài liệu của Cosgrove, J. và Cachia, R., DigComp 3.0: Khung năng lực kỹ thuật số Châu Âu - Phiên bản thứ năm, Văn phòng Xuất bản của Liên minh Châu Âu, Luxembourg, 2025, https://data.europa.eu/doi/10.2760/0001149, JRC144121.
![]()
Giấy phép nội dung: CC BY 4.0 Quốc tế.
---------------------------
---------------------------
Xem thêm:
Tác giả: Nghĩa Lê Trung
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
Blog này được chuyển đổi từ http://blog.yahoo.com/letrungnghia trên Yahoo Blog sang sử dụng NukeViet sau khi Yahoo Blog đóng cửa tại Việt Nam ngày 17/01/2013.Kể từ ngày 07/02/2013, thông tin trên Blog được cập nhật tiếp tục trở lại với sự hỗ trợ kỹ thuật và đặt chỗ hosting của nhóm phát triển...
DigComp 3.0: Khung năng lực số châu Âu
Các bài toàn văn trong năm 2025
Các bài trình chiếu trong năm 2025
Các lớp tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ tới hết năm 2025
Tập huấn thực hành ‘Khai thác tài nguyên giáo dục mở’ cho giáo viên phổ thông, bao gồm cả giáo viên tiểu học và mầm non tới hết năm 2025
Các tài liệu dịch sang tiếng Việt tới hết năm 2025
Loạt bài về AI và AI Nguồn Mở: Công cụ AI; Dự án AI Nguồn Mở; LLM Nguồn Mở; Kỹ thuật lời nhắc;
Tổng hợp các bài của Nhóm các Nhà cấp vốn Nghiên cứu Mở (ORFG) đã được dịch sang tiếng Việt
Tổng hợp các bài của Liên minh S (cOAlition S) đã được dịch sang tiếng Việt
Năm Khoa học Mở & Chuyển đổi sang Khoa học Mở - Tổng hợp các bài liên quan
Bạn cần biết những gì về các khung năng lực AI mới của UNESCO cho học sinh và giáo viên
Bàn về 'Lợi thế của doanh nghiệp Việt là dữ liệu Việt, bài toán Việt' - bài phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng ngày 21/08/2025
Khung năng lực AI cho giáo viên
‘Khung năng lực AI cho giáo viên’ - bản dịch sang tiếng Việt
‘KHUYẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG DẪN TRUY CẬP MỞ KIM CƯƠNG cho các cơ sở, nhà cấp vốn, nhà bảo trợ, nhà tài trợ, và nhà hoạch định chính sách’ - bản dịch sang tiếng Việt
Mark Zuckerberg: DeepSeek cho thấy vì sao nước Mỹ phải là ‘tiêu chuẩn nguồn mở toàn cầu’ của AI; không có lý do gì để suy nghĩ lại về việc chi tiêu
DeepSeek đã gây ra sự hoảng loạn trên thị trường — nhưng một số người cho rằng việc bán tháo là quá mức
50 công cụ AI tốt nhất cho năm 2025 (Đã thử và kiểm nghiệm)
Nhà khoa học AI hàng đầu của Meta cho biết thành công của DeepSeek cho thấy 'các mô hình nguồn mở đang vượt trội hơn các mô hình độc quyền'
“Chúng tôi không có hào nước”: Sự đổi mới đột phá của AI nguồn mở
‘Đặc tả Khung Tính mở Mô hình (MOF)’ của LF AI & Data - Tài sản chung của AI Tạo sinh - bản dịch sang tiếng Việt
‘LỘ TRÌNH CỦA TỔNG THƯ KÝ LIÊN HIỆP QUỐC VỀ HỢP TÁC KỸ THUẬT SỐ THÚC ĐẨY HÀNG HÓA CÔNG CỘNG KỸ THUẬT SỐ’ - bản dịch sang tiếng Việt
AI trong TVET - Một vài gợi ý triển khai trong thực tế
Dữ liệu để phân loại AI
Tài sản chung kỹ thuật số và Hàng hóa Công cộng Kỹ thuật số - Tìm thấy nền tảng chung cho các nhà hoạch định chính sách
Khung năng lực AI cho học sinh
Nếu DeepSeek muốn trở thành một người phá vỡ thực sự, nó phải tiến xa hơn nữa về tính minh bạch của dữ liệu
Mark Zuckerberg nói Meta có kế hoạch chi hơn 60 tỷ USD khi Thung lũng silicon hoảng loạn về sự cạnh tranh của AI Trung Quốc
‘Xây dựng cách tiếp cận minh bạch dữ liệu AI lấy người dùng làm trung tâm’ - bản dịch sang tiếng Việt
Tọa đàm ‘Vai trò của Tài nguyên Giáo dục Mở trong chuyển đổi số giáo dục đại học’ tại Viện Chuyển đổi số và Học liệu - Đại học Huế, ngày 12/09/2025