Bản sao các tác phẩm trong phạm vi công cộng nên để trong phạm vi công cộng

Thứ năm - 02/01/2020 06:54
Reproductions of Public Domain Works Should Remain in the Public Domain
By Claudio Ruiz and Scann, November 20, 2019
Theo: https://creativecommons.org/2019/11/20/reproductions-of-public-domain-works/
Bài được đưa lên Internet ngày: 20/11/2019
Tổ chức Creative Commons chú ý thấy các cơ sở di sản văn hóa sử dụng gia tăng các giấy phép CC trong các bản sao lại hình ảnh và các ảnh quét 3D các đối tượng như các tác phẩm điêu khắc, tượng bán thân, chạm trổ, và khắc chữ, trong số những điều khác, điều không thể chối cãi nằm trong phạm vi công cộng khắp trên thế giới. Ví dụ gần đây là tượng bán thân Nefertiti 3.000 năm tuổi trưng bày ở Viện bảo tàng Neues ở Berlin mà viện bảo tàng đã cấp giấy phép BY-NC-SA. Các thực hành rất khác nhau, từ việc sử dụng giấy phép CC BY, cho tới sử dụng giấy phép hạn chế nhất của chúng tôi – CC BY-NC-ND.
Hầu hết các đối tượng đó đã nằm trong phạm vi công cộng từ lâu nay, quả thực nhiều trong số chúng đã chưa từng bao giờ tuân theo bản quyền. Người nắm giữ bản quyền là người duy nhất có thể áp dụng giấy phép CC cho tác phẩm. Nếu tác phẩm nằm trong phạm vi công cộng, không giấy phép bản quyền nào nên được áp dụng, và trong trường hợp của các giấy phép CC, chúng được thiết kế để chỉ hoạt động ở những nơi bản quyền tồn tại, sự áp dụng giấy phép CC là không có hiệu lực. Trong các trường hợp đó, nếu có, thì Dấu Phạm vi Công cộng (Public Domain Mark) hoặc công cụ hiến vào phạm vi công cộng CC0 nên được áp dụng để khẳng định tình trạng phạm vi công cộng trên toàn cầu.
Nếu tác phẩm nằm trong phạm vi công cộng, không giấy phép bản quyền nào nên được áp dụng, và trong trường hợp của các giấy phép CC, chúng được thiết kế để chỉ hoạt động ở những nơi bản quyền tồn tại, sự áp dụng giấy phép CC là không có hiệu lực.
Vài tuyên bố đang được đưa ra đối với các bản quét 3Dj các bản sao các đối tượng ảnh chụp, không nhất thiết đối với bản thân các đối tượng đó. Tuy nhiên, số hóa tự bản thân nó không tạo ra bản quyền hoặc các quyền tương tự vì trong đại đa số các quyền tài phán không có sự độc đáo nào liên quan tới việc tạo ra một bản sao số trung thực của một tác phẩm sáng tạo. Trong hầu hết các trường hợp, các bản sao đó tuân theo các tiêu chuẩn công nghiệp đã rất thành danh rồi vì các mục đích bảo tồn. Thậm chí khi các bản quét đó là kết quả của lao động có kỹ năng cao, các bản sao đó vẫn không đủ tính sáng tạo để được bảo vệ bản quyền ở hầu hết mọi nơi.
Trong một số trường hợp, ứng dụng các giấy phép CC đã được áp dụng đối với các đối tượng gây tranh cãi, nơi quản lý văn hóa và quyền sở hữu các đối tượng đó là chủ đề của các thảo luận về pháp lý, chính trị, và ngoại giao. Creative Commons đang khai thác vấn đề này và thừa nhận là các giấy phép CC không đủ để giải quyết các vấn đề đó. Tuy nhiên, trong các trường hợp đó, là đặc biệt có ý nghĩa khi chú ý tới các đặc quyền văn hóa để thâm nhập vào các cộng đồng nguồn gốc, bao gồm các quyết định về số hóa và các hạn chế và các điều kiện truy cập[1].
Các giấy phép Creative Commons là các công cụ cho phép những người sử dụng hiểu tốt hơn những sự cho phép nào đang được người sáng tạo tác phẩm gốc trao cho công chúng. Khi một giấy phép CC bị áp dụng sai, khả năng các giấy phép CC trở thành một dấu hiệu tiêu chuẩn để truyền đạt những sự cho phép bản quyền bị xói mòn. Việc gắn nhãn sai cho các tác phẩm tạo ra sự bối rối giữa những người sử dụng lại các tác phẩm và hạn chế các quyền của công chúng hưởng lợi từ những cái chung của toàn thế giới.
Chúng tôi nhận thức được rằng trong một số trường hợp các cơ sở di sản văn hóa sử dụng các giấy phép CC để có được sự tin cậy cho tác phẩm của họ hoặc để chỉ ra nguồn gốc của đối tượng đại diện dạng số đó. Có các công cụ kỹ thuật tốt hơn, phù hợp hơn để đạt được mục tiêu đó, bao gồm siêu dữ liệu và các tiêu chuẩn máy đọc được.
Cuối cùng, chúng tôi hiểu những lo ngại đối với doanh thu và lợi nhuận mà vài cơ sở di sản văn hóa thể hiện khi đánh giá các chính sách truy cập mở. Tuy nhiên, việc khiếu nai bản quyền đối với các tác phẩm nằm trong phạm vi công cộng và các chiến lược doanh thu thành công là các thảo luận khác nhau không thuộc về cùng một không gian. Nếu có, có số lượng ngày một gia tăng bằng chứng chỉ ra rằng các chi phí có liên quan tới việc cấp phép cho các hình ảnh làm giảm các lợi ích hoặc các dòng doanh thu tiềm năng đối với các hình ảnh được cấp phép[2].
Các giấy phép Creative Commons không phải là các công cụ nên được sử dụng để hạn chế khả năng phát hiện, chia sẻ, và sử dụng lại phạm vi công cộng. Các cơ sở di sản văn hóa nên ôm lấy các chính sách truy cập mở như một phần của các sứ mệnh của các cơ sở của họ để trao sự truy cập tới văn hóa và thông tin cho công chúng.
Creative Commons đang nỗ lực chào nhiều hơn các hoạt động huấn luyện và giáo dục cho các cơ sở di sản văn hóa về truy cập mở. Chúng tôi cũng đang đối tác với Quỹ Wikimedia về Tuyên bố về Truy cập Mở cho Di sản Văn hóa, điều chúng tôi kỳ vọng sẽ tung ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu vào tháng 5/2020. Hãy tham gia cùng chúng tôi trong thảo luận này tại @openglam.
Các tham chiếu
1. Pavis, Mathilde and Wallace, Andrea, Response to the 2018 Sarr-Savoy Report: Statement on Intellectual Property Rights and Open Access Relevant to the Digitization and Restitution of African Cultural Heritage and Associated Materials (March 25, 2019). Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3378200 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3378200
2. Crews, Kenneth D., Museum Policies and Art Images: Conflicting Objectives and Copyright Overreaching. Fordham Intellectual Property, Media & Entertainment Law Journal, Vol. 22, p. 795, 2012; Tanner S. Reproduction charging models & rights policy for digital images in American art museums: A Mellon Foundation funded study. Online: King’s College London, 2004. 57 p.; Foteini Valeonti, Andrew Hudson-Smith, Melissa Terras & Chrysanthi Zarkali, Reaping the Benefits of Digitisation: Pilot study exploring revenue generation from digitised collections through technological innovation, Proceedings of EVA London 2018, UK.
It has come to the attention of Creative Commons that there is an increased use of CC licenses by cultural heritage institutions on photographic reproductions and 3D scans of objects such as sculptures, busts, engravings, and inscriptions, among others, that are indisputably in the public domain worldwide. A recent example is the 3000-year-old Nefertiti bust on display at the Neues Museum in Berlin that the museum licensed under BY-NC-SA. The practices vary widely, from using a CC BY license, to using our most restrictive license—CC BY-NC-ND.
Most of these objects have been in the public domain for a long time now, indeed many that have never been subject to copyright. The copyright holder is the only person that can apply a CC license to a work. If the work is in the public domain, no copyright licenses should be applied, and in the case of CC licenses, which are designed to only operate where copyright exists, the application of a CC license is ineffective. In these cases, if anything, the Public Domain Mark or the CC0 public domain dedication tool should be applied to confirm worldwide public domain status.
If the work is in the public domain, no copyright licenses should be applied, and in the case of CC licenses, which are designed to only operate where copyright exists, the application of a CC license is ineffective.
Some of these claims are being made over the 3D scans and photographic reproductions of objects, not necessarily over the objects themselves. However, digitization by itself doesn’t create copyright or similar rights because in the vast majority of jurisdictions there is no originality involved in making a faithful digital reproduction of a creative work. In most of the cases, these reproductions follow very well-established industry standards for preservation purposes. Even when these scans are the result of skilled labor, these reproductions are still insufficiently creative to be granted copyright protection almost everywhere.
In some of these cases, the application of CC licenses has been applied over contested objects, where cultural stewardship and ownership of these objects is the subject of legal, political, and diplomatic discussions. Creative Commons is exploring this issue and recognizes that CC licenses do not sufficiently address these issues. However, in these cases, it is particularly meaningful to pay attention to the cultural prerogatives that enure to the communities of origin, including decisions on digitization and access restrictions and conditions.1
Creative Commons licenses are tools to allow users to better understand what permissions are being granted to the public by the creator of the original work. When a CC license is misapplied, the ability of CC licenses to be a standard signal for communicating copyright permissions is undermined. Mislabelling works creates confusion among re-users of works and limits the rights of the public to benefit from the global commons.
We acknowledge that in some cases cultural heritage institutions use CC licenses in order to get credit for their work or to indicate the provenance of the digital surrogates. There are better, more appropriate technical tools to achieve that goal, including metadata and machine readability standards.
Lastly, we understand the concerns over revenue and profit that some cultural heritage institutions express when evaluating open access policies. However, claiming copyright over public domain works and successful revenue strategies are different conversations that don’t belong in the same space. If anything, there is a growing amount of evidence that shows that the associated costs for licensing images dwarf the potential benefits or revenue streams for licensing images.2
Creative Commons licenses are not tools that should be used to limit the possibility of discovery, sharing, and re-use of the public domain. Cultural heritage institutions should embrace open access policies as part of their institutional missions to grant access to culture and information to the public.
Creative Commons is making efforts to offer more training and education activities to cultural heritage institutions on open access. We are also working in partnership with the Wikimedia Foundation on a Declaration on Open Access for Cultural Heritage, that we expect to launch at our Global Summit in May 2020. Engage with us in this conversation at @openglam.
References
1. Pavis, Mathilde and Wallace, Andrea, Response to the 2018 Sarr-Savoy Report: Statement on Intellectual Property Rights and Open Access Relevant to the Digitization and Restitution of African Cultural Heritage and Associated Materials (March 25, 2019). Available at SSRN: https://ssrn.com/abstract=3378200 or http://dx.doi.org/10.2139/ssrn.3378200
2. Crews, Kenneth D., Museum Policies and Art Images: Conflicting Objectives and Copyright Overreaching. Fordham Intellectual Property, Media & Entertainment Law Journal, Vol. 22, p. 795, 2012; Tanner S. Reproduction charging models & rights policy for digital images in American art museums: A Mellon Foundation funded study. Online: King’s College London, 2004. 57 p.; Foteini Valeonti, Andrew Hudson-Smith, Melissa Terras & Chrysanthi Zarkali, Reaping the Benefits of Digitisation: Pilot study exploring revenue generation from digitised collections through technological innovation, Proceedings of EVA London 2018, UK.
Dịch: Lê Trung Nghĩa
letrungnghia.foss@gmail.com
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Về Blog này

Blog này được chuyển đổi từ http://blog.yahoo.com/letrungnghia trên Yahoo Blog sang sử dụng NukeViet sau khi Yahoo Blog đóng cửa tại Việt Nam ngày 17/01/2013.Kể từ ngày 07/02/2013, thông tin trên Blog được cập nhật tiếp tục trở lại với sự hỗ trợ kỹ thuật và đặt chỗ hosting của nhóm phát triển...

Bài đọc nhiều nhất trong năm
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập49
  • Hôm nay2,942
  • Tháng hiện tại316,361
  • Tổng lượt truy cập18,112,126
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây