Tài liệu tranh luận về nguồn mở của Bộ Tư pháp New Zealand (Phần 3)

Thứ sáu - 04/01/2008 06:52

Ministry of Justice Open Source Discussion Paper

Bài được đưa lên Internet ngày: 11/12/2007

Barry Polley, MoJ A&S, barry.polley@justice.govt.nz

Lời người dịch: Tài liệu này cho chúng ta một cách nhìn thực dụng hơn trong vấn đề ứng dụng và khai thác các phần mềm nguồn mở trong chính phủ. Bên cạnh đó, nó cũng sẽ giúp những người ra các quyết định, chính sách có liên quan tới phần mềm nguồn mở những tiếp cận mà các nước phát triển đi trước đã tổng kết. Điều này là rất cần thiết đối với việc ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở tại Việt Nam hiện nay.

l Response to Objections

l Trả lời cho các ý kiến đóng góp

Tổng kết lại, việc áp dụng PMNM có thể dẫn tới một môi trường công nghệ thông tin hiệu quả hơn về kinh tế, ổn định và có hỗ trợ tốt hơn, và phải được theo đuổi vì những nguyên nhân thực dụng. Việc áp dụng PMNM không phải là phương thuốc chữa bách bệnh, và phải được xử lý mà không dựa trên giá trị của một gói cụ thể nào. Đưa ra 2 gói như nhau, một mở và một sở hữu độc quyền, thì gói PMNM có thể là lựa chọn được ưu tiên vì những lý do về tính có thể hỗ trợ được tốt hơn và giá thành vòng đời thấp hơn.

In summary, the adoption of OSS can lead to a more stable, supportable, and cost-effective IT environment, and should be pursued for pragmatic reasons. OSS adoption is not a panacea, and should proceed or not based on a particular package's merits. Given two equivalent packages, one open and one proprietary, the OSS one would be the preferable choice for reasons of better supportability and lower lifecycle cost.

An OSS strategy

Chiến lược về PMNM

Các công ty tư nhân, đặc biệt là các công ty phát triển phần mềm vì lợi nhuận, đối mặt với những thách thức không thể tưởng tượng được trong việc áp dụng để mở rộng việc sử dụng PMNM. Còn với các chính phủ, những thách thức này là ít hơn, vì việc duy trì các thông tin cạnh tranh sở hữu độc quyền không nằm trong phạm vi của chính phủ như là với một nhà cung cấp phần mềm sở hữu độc quyền. Chính phủ triển khai các phần mềm để hoàn thành các mục tiêu của mình, không phải là để có được ưu thế cạnh tranh đối với tổ chức khác. Chính phủ tìm để xuất các lợi ích cho nhiều bên tham gia, hơn là tích trữ chúng cho các cổ đông. Vì những khách biệt này, các cơ quan chính phủ dễ dàng hơn nhiều trong việc khẳng định việc sử dụng PMNM. Bộ Tư pháp dự kiến hỗ trợ nhiều sáng kiến hơn nữa cùng với thời gian, theo một phương cách hợp tác với các cơ quan khác; dự kiến xa hơn là những thay đổi đó phải được thực hiện nhanh hơn và với giá thành thấp hơn bao giờ hết. Việc chấp thuận PMNM ở bất cứ nơi nào có thể là không thay đổi với những dự kiến dịch vụ như thế.

Private enterprises, especially for-profit software development companies, face incredible challenges in adapting to the widespread use of OSS. Yet for governments, the challenges are fewer, because maintaining proprietary competitive information is not within government's scope as it is with a vendor of proprietary software. Government implements software to accomplish its goals, not to gain competitive advantage over another organisation. Government seeks to externalise benefits to many stakeholders, rather than hoard them for shareholders. As a result of these differences, government agencies have a much easier case justifying the use of OSS. The Ministry of Justice is expected to support more initiatives over time, in a collaborative way with other agencies; the further expectation is that changes must be made ever more quickly and at lower cost. Adopting OSS whe-rever possible is consistent with those service expectations.

Một thách thức chủ yếu mà bất kỳ tổ chức công nghệ thông tin nào cũng phải đối mặt là làm giảm tính phức tạp. Khi mà những yêu cầu về hệ thống gia tăng, và số lượng các hệ thống và các tuỳ biến đã có gia tăng, nỗ lực nhiều hơn một cách tích cực hơn được yêu cầu để duy trì mức độ hiện hành về chức năng. PMNM đưa ra 2 dạng sử dụng lại mã nguồn mà chúng làm giảm độ phức tạp – bằng việc giảm số lượng mã nguồn được đặt trước, và bằng việc triển khai mã nguồn mà chúng đã có trong sản phẩm ở đâu đó. Công nghệ ảo hoá XEN là PMNM, và nó làm giảm sự phức tạp của việc thiết lập cấu hình ứng dụng để hoạt động được trơn tru hơn. Việc ngăn cấm PMNM không còn là khả thi hoặc hiệu quả về kinh tế nữa. Thà rằng giả đò PMNM là một sự kỳ cục thoáng qua, hoặc bỏ qua sự gia tăng về sử dụng PMNM vì nó là một thay đổi từ những kinh nghiệm đã qua của Bộ, thì một chiến lược áp dụng hợp lý có thể là:

One major challenge faced by any IT organisation is the reduction of complexity. As demands on systems grow, and the number of legacy systems and customisations increases, progressively more effort is required just to maintain an existing level of functionality. OSS offers two forms of code reuse that reduce complexity - by reducing the amount of bespoke code required, and by deploying code that's already in production elsewhe-re. XEN virtualisation technology is OSS, and it reduces complexity of application configuration for higher uptime.

Knee-jerk prohibition of OSS is no longer feasible or cost-effective. Rather than pretend OSS is a passing fad, or ignore the growth of OSS use because it is a change f-rom past Ministry practices, a rational adoption strategy would:

1) Khuyến khích một quy trình lựa chọn cho việc áp dụng nội bộ

2) Xác định một cách cụ thể các dạng ứng dụng bị cấm và các mô hình cấp giấy phép

3) Chỉ định các luật lệ theo đó các nhà lập trình phát triển nội bộ sẽ đóng góp vào các dự án nguồn mở

Ba điểm này được nhấn mạnh bên dưới cùng với những ảnh hưởng về chính sách một cách đáng kể nhất của chúng. (Một tập hợp các chính sách nguồn mở được cung cấp như một phụ lục cho tài liệu này).

1) Encourage a se-lection process for internal adoption.

2) Identify specifically prohibited application types and licencing models.

3) Specify the rules by which in-house developers contribute to open source projects.

These three points are elaborated below, along with their most significant policy implications. (A set of Open Source Policies is provided as an Appendix to this document.)

Se-lection Process

Quy trình lựa chọn

Việc tự do lựa chọn một giải pháp nguồn mở là không giống như việc cho phép bất kỳ nhà lập trình phát triển nào chọn bất kỳ sản phẩm PMNM nào cho bất kỳ mục đích nào, mà nó có thể dẫn tới một bãi lầy không thể hỗ trợ được. Có hàng ngàn dự án, sản phẩm PMNM nhưng chỉ một số phần trăm nhỏ là phù hợp cho việc triển khai qui mô rộng lớn hoặc vì lợi ích của mọi người hơn chính bản thân tác giả ban đầu. Bộ (Tư pháp) phải tạo được một danh sách và qui trình áp dụng nội bộ mà chúng vận hành theo đúng như cách mà một RFI làm – xách định các công cụ mà chúng có thể được mua và triển khai, hơn là được tạo ra như các phần mềm được đặt hàng từ ban đầu. Nỗ lực này phải có 2 qui trình diễn tiến: rà soát ban đầu (để hạn chế những lựa chọn không phù hợp) và các quyết định chính thức đi sau (để xếp hạng các lựa chọn phù hợp). Ngay cả các công cụ có mục đích đặc biệt, cao cấp cũng được làm sẵn sàng như PMNM – ví dụ, các công cụ kho dữ liệu thương mại rất đắt giá và khả năng mạnh ETL như Informatica và DataStage bây giờ có sự cạnh tranh của PMNM trong JasperSoft và Talend. Một tình thế tương tự sẽ tồn tại cùng với hệ thống quản lý văn bản được cài đặt hầu hết trên thế giới, Documentum, và đối thủ cạnh tranh mới PMNM là Alfresco.

Being free to choose an open source solution is not the same as allowing any developer to choose any OSS product for any purpose, which would lead to an unsupportable morass. There are thousands of OSS projects, but only a small percentage are suitable for large-scale deployment or of interest to anyone other than the original author. The Ministry should cre-ate an internal adoption checklist and process that functions in the same way an RFI does - identifying tools that might be acquired and deployed, rather than cre-ated as bespoke software f-rom scratch. This effort should consist of two sequential processes: an initial screening (to eliminate unsuitable options) and a subsequent formal decision matrix (to rank suitable options). Even high- end, special-purpose tools are being made available as OSS - for example, very expensive yet capable commercial data warehouse ETL tools such as Informatica and DataStage now have OSS competition in JasperSoft and Talend. An analogous situation exists with the world's most-installed document management system, Documentum, and its new OSS rival, Alfresco.

An internal checklist for se-lecting an OSS product should include the following:

Bản liệt kê nội bộ để chọn một sản phẩm PMNM phải bao gồm những thứ sau:

1) Nếu có một đối thủ cạnh tranh sở hữu độc quyền, liệu giải pháp thay thế bằng PMNM có làm được ít nhất một thứ tốt hơn hay không?

2) Liệu có một cộng đồng phát triển tích cực hay không? (không cần thiết là một cộng đồng lớn)

3) Liệu có các nhà lập trình phát triển được trả tiền để đóng góp hay không?

4) Liệu có các nỗ lực xây dựng tài liệu đang được duy trì hay không?

5) Liệu các điều khoản của giấy phép có rõ ràng và cạnh tranh với các giấy phép khác không?

6) Liệu việc hỗ trợ có thể có được không? (Phải sẵn sàng, chấp nhận được, với QoE/QoS được chỉ định)

7) Liệu tỷ lệ áp dụng có ổn định hoặc gia tăng hay không?

1) If there is a proprietary competitor, does the OSS al-ternative do at least one thing better?

2) Is there an active development community? (Not necessarily a large one)

3) Are there developers who are paid to contribute?

4) Is there a documentation effort that's kept current?

5) Are the licence terms clear and compatible with other licences?

6) Can support be obtained? (Must be available, affordable, with QoE/QoS specified)

7) Is the adoption rate stable or growing?

Mục tiêu là để chọn một gói mà nó sẽ có một vòng đời thiết thực lâu dài, lý tưởng là vượt trên cả nhu cầu của Bộ (Tư pháp) đối với nó. Trong khi PMNM là vốn đã có thể duy trì được tốt hơn là các phần mềm sở hữu độc quyền, lợi ích của PMNM được thoả hiệp một cách đột ngột nếu việc duy trì bổ sung phải được thực hiện nội bộ khi mà cộng đồng các nhà lập trình phát triển bay hơi mất. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ một gói PMNM tù túng có thể còn ít phức tạp hơn những chuyển đổi đòi hỏi bởi các phần mềm sở hữu độc quyền hết vòng đời như Tuxedo và Powerbuilder, một vài nỗ lực sẽ phải được xài hết để đảm bảo một chuyển đổi như vậy là không bị đòi hỏi quá sớm.

Bộ (Tư pháp), cùng với toàn bộ chính phủ New Zealand, sẽ cần xem xét lại việc mua sắm của mình để phản ánh thực tế của PMNM. Các nhà cung cấp phần mềm sở hữu độc quyền có khả năng xác định các khoản chi thực tế ứng với một RFP vì họ phải tổng hợp các chi phí này trong cấu trúc chi phí giấy phép của họ. Bộ (Tư pháp) có thể cần chỉ định các nguồn lực nội bộ của riêng bộ để xác định các gói PMNM phù hợp và cung cấp các đánh giá kỹ thuật thay thế cho một qui trình đáp ứng của RFP.

The goal is to pick a package that will have a long useful life, ideally beyond the Ministry's need for it. While OSS is inherently more maintainable than proprietary software, the benefits of OSS are compromised dramatically if additional maintenance must be performed in-house when the developer community vanishes. The migration f-rom a stagnant OSS package would still be less complex than migrations required by end-of-life proprietary software such as Tuxedo and Powerbuilder, however, some effort should be expended to ensure such a migration is not required prematurely.

The Ministry, along with the entire NZ government, will need to revise its procurement practices to reflect the reality of OSS. Proprietary software vendors are able to justify their substantial expenditures on responding to an RFP because they have assumed those costs into their licence fee structure. OSS vendors will not have the ability to do that, as there are no upfront licence fees to offset their RFP expenses. The Ministry may well need to assign its own internal resources to identify relevant OSS packages and provide technical evaluation in lieu of an RFP response process.

Quan hệ của các nhà cung cấp cũng sẽ cần phải thay đổi. Mô hình thác nước trong đặt hàng truyền thống của các công ty tư vấn lớn về phát triển sẽ không có khả năng cạnh tranh trong mọi vấn đề quan trọng (chức năng, giá thành, hoặc thời gian đưa ra thị trường) với việc áp dụng PMNM. Tuy nhiên, một vài hãng có thể có khả năng gia tăng giá trị bằng việc cung cấp phát triển tuỳ biến để mở rộng PMNM, quản lý phát triển của nó, hoặc cung cấp việc đào tạo – những nỗ lực mà chúng là nhỏ hơn theo phạm vi so với việc tìm kiếm từ fmootj RFP phạm vi đầy đủ, nhưng rất quan trọng đối với thành công của một dự án. Một số hãng nội địa đã chấp nhận PMNM như một phần của các chào hàng dịch vụ của họ, như Catalyst IT thông qua cổng Open4Business [http://www.o4b.co.nz] và các dịch vụ tư vấn. Đối với các thay đổi tuỳ biến cho PMNM, không cần thiết việc công ty phải là nội địa; các dự án PMNM được áp dụng một cách rộng rãi sẽ tạo ra các cửa hàng tư vấn nhỏ trên toàn thế giới, những người tiếp tục sống sót nhờ vào chất lượng công việc của họ. Trong một vài trường hợp, các nhà lập trình phát triển gốc của một sản phẩm PMNM nào đó có thể sẵn sàng thực hiện phát triển tuỳ biến, và nếu công việc tuỳ biến đó là việc sử dụng thông thường thì nó có thể được tung ra cho cộng đồng để xem xét và duy trì thường xuyên.

Việc lựa chọn một sản phẩm PMNM và các dịch vụ hỗ trợ có liên quan phải được thực hiện một cách cẩn thận, trừ khi có các vấn đề, điều rất tự nhiên đối với tính mềm dẻo mà PMNM đưa ra. Nếu một nhà cung cấp không cung cấp hỗ trợ đầy đủ, thì hãy giữ sản phẩm đó nhưng hãy đi với nhà cung cấp khác để hỗ trợ nó. Nếu một sản phẩm PMNM không làm việc như mong muốn, hoặc nếu các yêu cầu đặt lên nó thay đổi quá đột ngột, thì hãy chuyển các dữ liệu và áp dụng một sản phẩm PMNM khác. (Các sản phẩm PMNM thường lưu trữ các dữ liệu trong các định dạng có thể truy cập được hơn là các đối tác sở hữu độc quyền của chúng).

Vendor relationships will need to change as well. Large consulting firms' traditional bespoke waterfall model of development will not be able to compete in any important sense (functionality, cost, or time-to- market) with OSS adoption. However, some firms may be able to add value by providing custom development to extend OSS, managing its deployment, or providing training – efforts that are smaller in scope than sought f-rom a full-scale RFP, but very important to a project's success. Some local firms have already embraced OSS as part of their service offerings, such as Catalyst IT through its Open4Business portal [http://www.o4b.co.nz/] and consulting services. For custom changes to OSS, it's not necessary that the firm be local; broadly adopted OSS projects generate small, boutique consultancies around the globe, whose continued survival depends on the quality of their work. In some cases, core developers of a given OSS product may be available to perform custom development, and if that custom work is of general use it can be released to the community for review and ongoing maintenance.

Se-lection of an OSS product and associated support services should be done with care, but in the event of problems, the very nature of OSS offers flexibility. If a vendor is not providing adequate support, then keep the product but engage another vendor to support it. If an OSS product is not working as expected, or if the demands placed upon it change too dramatically, then migrate the data and adopt a different OSS product.

(OSS products typically store data in more accessible formats than their proprietary counterparts.)

Application Types

Các dạng ứng dụng

Những nỗ lực ban đầu hầu hết có lẽ là thành công với các dự án phần mềm nền (back-office) mà những người sử dụng chúng là những người am hiểu về kỹ thuật. Phân phối tệp, tiến trình, xử lý dữ liệu dạng data mining, và các ứng dụng quản lý văn bản được sử dụng được sử dụng để trở thành lãnh địa của các giải pháp sở hữu độc quyền phức tạp và rất tốn kém. Mỗi lĩnh vực trong đó bây giờ chứa đựng nhiều dự án PMNM tích cực mà chúng có thể được áp dụng một cách kết hợp để đáp ứng được các nhu cầu của người sử dụng tốt hơn bất kỳ giải pháp đơn độc và đơn lẻ nào. Các bộ công cụ phát triển như Spring và Jboss SEAM là các PMNM, và cho phép phát triển theo hướng dịch vụ và phù hợp triển khai với Kiến trúc Chuyên nghiệp của Bộ (Tư pháp). Có những thứ tương đương về chức năng của PMNM đối với các ứng dụng chính của máy tính để bàn, nên các chuyển đổi trong tương lai phải được xem xét tới. Ví dụ, định dạng tài liệu mở – ODF (Open Document Format) đã lôi cuốn được sự hỗ trợ thương mại rộng rãi, làm nên các chuyển đổi từ Microsoft Word sang một thứ thực thi tương đương để xem xét.

Initial efforts are most likely to succeed with back-office projects whose users are technically savvy. File distribution, workflow, data mining, and document management applications used to be the province of complicated and very expensive proprietary solutions. Each of those areas now encompasses multiple, active OSS projects that can be adopted in combinations that match user needs better than any single, monolithic solution. Development toolkits such as Spring and JBoss SEAM are OSS, and enable service-oriented development and deployment consistent with the Ministry's Enterprise Architecture. There are OSS functional equivalents to major desktop applications, so future migrations should be considered. For example, the Open Document Format (ODF) has attracted widespread commerical support, making migrations f-rom Microsoft Word to an open equivalent feasible to consider.

Nhưng còn có những rủi ro đổ vỡ mà nó đi kèm theo những thay đổi như vậy; ví dụ, mặc dù trình soạn thảo ảnh GIMP là được tranh luận là như nhau về chức năng so với phần mềm thương mại và phải trả tiền Adobe Photoshop, mà Adobe Photoshop có hàng chục năm kinh nghiệm của người sử dụng đứng về phía nó, và những người sử dụng có kỹ năng không muốn bị đào tạo lại trên một sản phẩm mới khi mà cái đang tồn tại phục vụ tốt được cho các nhu cầu của họ. Tương tự, sản phẩm PMNM OpenOffice cho phép người sử dụng chuyên tâm soạn thảo và trao đổi các tệp của Microsoft Office mà không cần phải mua MS Office, nhưng việc đào tạo lại các kỹ năng của người sử dụng MS Office là cần thiết, và tính tương thích trên màn hình lại chưa được hoàn hảo. Về kinh tế của việc đào tạo lại và khả năng làm sạch hàng triệu các tài liệu lịch sử chưa khẳng định được sự chuyển dịch sang PMNM trong lĩnh vực này. (Các yếu tố kinh tế có thể thay đổi khi OpenOffice được cải thiện, và khi mà các yêu cầu phần cứng nặng nề của Vista làm cho các cơ quan phải xem xét một chuyển đổi về bên Linux). Tại New Zealand, IRD đã công bố việc xem xét của nó về chuyển sang Linux + OpenOffice trên cơ sở chi phí – không phải là gì bí mật, mà là một cách công khai).

But there are risks of disruption that accompany such changes; for example, though the GIMP image editor is arguably functionally identical to the proprietary-and-costly Adobe Photoshop, the latter has decades of user experience on its side, and skilled users are unwilling to retrain on a new product when the existing one serves their needs so well. Similarly, the OpenOffice OSS product allows the dedicated user to edit and exchange Microsoft Office files, without paying for MS-Office, but retraining of skilled MS-Office users is necessary, and the compatibility on-screen is not yet perfect. The economics of retraining and possibly cleaning up millions of historical documents do not yet justify a move to OSS in this area. (The economic factors may change as OpenOffice improves, and as Vista's onerous hardware requirements cause departments to consider a sideways migration to Linux. In New Zealand, the IRD has already announced its consideration of moving to Linux + OpenOffice on expense grounds – not in confidence, but in public.)

Việc xem xét cũng phải đưa ra được các dạng giấy phép liên quan với một dự án PMNM nào đó. Bộ (Tư pháp) không thể ngăn cấm việc sử dụng các phần mềm GPL (như Java) nhưng bộ có thể cấm thay đổi đối với bất kỳ phần mềm nào như vậy, để mà tuân thủ với GPL. Chính sách đó có thể làm giảm các rủi ro có liên quan tới những thay đổi tuỳ biến, như bị bỏ đơn độc từ các phiên bản mã nguồn chính, nhưng với giá thành rất cao về giảm tính mềm dẻo của chức năng mà PMNM đưa ra. Về lịch sử, bản quyền của Crown được giữ đối với mọi mã nguồn được viết bởi Bộ (Tư pháp) hoặc các nhà cung cấp của nó; Tuy nhiên, chính sách của SSC hiện hành là ngầm định đối với quyền sở hữu của nhà cung cấp mã nguồn với Crown đang đảm bảo được một giấy phép dịch vụ rộng lớn trong toàn bang để sử dụng. Các giấy phép dạng BSD vì thế được chuộng hơn, khuyến khích phát triển kinh tế thông qua những cơ hội thương mại hoá được cải tiến trong khi đáp ứng được các nhu cầu ứng dụng của Bộ.

Consideration should also be given to the types of licences associated with a given OSS project. The Ministry cannot feasibly prohibit the use of GPLed software (such as Java) but it can prohibit changes to any such software, so as to remain in compliance with the GPL. That policy would reduce the risks associated with custom changes, such as being orphaned f-rom main source code ('trunk') releases, but at the very high cost of reducing the flexibility of function that OSS offers. Historically, Crown copyright has been reserved for any code written by the Ministry or its vendors; however, current SSC policy defaults to provider ownership of code with the Crown being granted a state-services-wide licence for use. BSD-style licences are thus preferred, encouraging economic development through improved commercialisation opportunities while meeting the Ministry's application needs.

In-House Development

Phát triển nội bộ

Bộ đã công bố cam kết của mình trở thành một 'người chủ của lựa chọn' đối với những người chuyên nghiệp kỹ thuật có kỹ năng.

Việc áp dụng PMNM trong phát triển và triển khai là không đổi với một cam kết như vậy. (Nói thẳng thắn, những người chuyên nghiệp về kỹ thuật muốn giữ cho các kỹ năng của họ được sắc sảo và hợp thời: trong năm 2007, làm việc với các công cụ nguồn mở và đóng góp cho các dự án PMNM là cách họ làm). Có những nhà lập trình phát triển rất tài ba làm việc với các công cụ sở hữu độc quyền cũ như Visual Basic, ABAP, PL/SQL, và những thứ khác, nhưng số lượng những người như vậy đang teo đi trong thị trường những người bán hiện nay tại New Zealand đối với nhân lực công nghệ thông tin. Các chính sách đơn giản cần phải được thiết lập sao cho những công nhân mới biết các công cụ PMNM nào họ có thể sử dụng, và mở rộng hơn là họ có thể đóng góp cho các dự án PMNM. (Nhiều công ty kỹ thuật đã đi theo sự dẫn dắt của Google trong việc cho phép nhân sự đóng góp vào các dự án PMNM như một phần trách nhiệm công việc của họ. Không rõ liệu người đóng thuế có chấp nhận các chính sách như vậy hay không ở đây, và trong mọi sự kiện thì mong muốn đưa trở ngược lại cho cộng đồng mã nguồn có thể xung đột với những mong muốn thực thi công việc). Những đóng góp cho một phiên bản trụ cột của dự án nào đó có thể sẽ làm giảm rủi ro và xây dựng được sự tôn trọng đối với Bộ (Tư pháp) như một thành viên cộng đồng.

Các tiếp cận phát triển nội bộ sẽ thay đổi như là kết quả của việc áp dụng PMNM. Không cần thiết phải áp dụng một sản phẩm PMNM duy nhất khi một tổ hợp các sản phẩm PMNM sẽ cung cấp thứ gộp lại tốt hơn với ít mã đặt trước. Chúng ta có thể có chức năng được nuôi dưỡng tốt nhất mà không phụ thuộc vào chỉ một dự án PMNM, mà nó là sự thay đổi nghịch lý đối với hầu hết các nhà lập trình phát triển được sử dụng cho việc thay đổi chỉ một bộ mã nguồn để cải thiện tính khả dụng của nó. Chúng ta cũng có thể đòi hỏi các kỹ năng từ các cửa hàng phát triển bản địa, nhỏ khi dự án cần sự thay đổi mà không phải lo về quyền sở hữu trí tuệ như một thực thể thương mại có thể (phải lo).

The Ministry has stated its commitment to be an 'employer of choice' for skilled technical professionals.

Adopting OSS in development and deployment is consistent with suc`h a commitment. (Put bluntly, technical professionals want to keep their skills sharp and current; in 2007, working with open source tools and contributing to OSS projects are the way that's done.) There are very talented developers who work with older proprietary tools such as Visual Basic, ABAP, PL/SQL, and the like, but their numbers are dwindling in the current NZ seller's market for IT labour. Simple policies need to be established so new workers know what OSS tools they can use, and the extent to which they can contribute to OSS projects. (Many technical companies have followed Google's lead in allowing staff to contribute to OSS projects as part of their job responsibilities. It's unclear whether the taxpayer would approve of such policies here, and in any event the desire to give back to a code community can conflict with job performance expectations.) Contributions to a project's trunk release would reduce risk and build respect for the Ministry as a community member.

Internal development approaches change as a result of OSS adoption. It is not necessary to adopt a single OSS product when a combination of OSS products provides better coverage with less bespoke code. We can have best-of-breed functionality without dependence on a single OSS project, which is a change of paradigm for most developers used to tailoring a single body of code to improve its utility. We can also acquire skills f-rom small, local development shops as project needs change, without having to worry about intellectual property rights as a commercial entity might.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Chính phủ Đức thu thập các ý tưởng về dữ liệu mở

German government collects ideas on open dataSubmitted by Adrian Offerman on April 07, 2015Theo: https://joinup.ec.europa.eu/community/opengov/news/german-government-collects-ideas-open-dataBài được đưa lên Internet ngày: 07/04/2015Lời người dịch: Các trích đoạn: “Chính phủ liên bang Đức đã khởi...

Bài đọc nhiều nhất trong năm
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập30
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm26
  • Hôm nay4,886
  • Tháng hiện tại99,165
  • Tổng lượt truy cập15,106,100
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây