Chuyện cổ tích các tiêu chuẩn mở của Microsoft

Thứ tư - 21/03/2012 06:20

Microsoft'sOpen Standards Fairy Tale

Published 13:12, 15 March12, by GlynMoody

Theo:http://blogs.computerworlduk.com/open-enterprise/2012/03/microsofts-open-standards-fairy-tale/index.htm

Bài được đưa lênInternet ngày: 15/03/2012

Lờingười dịch: Bài viết này nhắc nhở chúng ta một điều,rằng Microsoft đã, đang, và có lẽ sẽ chiến đấu đểbiến chuẩn mở được định nghĩa như là chuẩn đóng,hay nói cách khác, muốn biến chuẩn mở thành các chuẩnmà bất kỳ ai cũng phải trả phí bản quyền đối vớicác bằng sáng chế phần mềm được gài trong đó. Vàlịch sử đã chứng minh 1 lần vào năm 2007, khi Tòa ánchâu Âu phán quyết buộc Microsoft phải để Nhóm Samba sửdụng các đặc tả cho tính tương hợp mạng mà NhómSamba đã phải trả phí 10.000 euro làm một lần để cóđược những thông tin đó. “Và đối với lý lẽ rằngSamba đã làm, quả thực, giành được thông tin về tínhtương hợp chủ chốt đó, mà chứng minh cho hệ thốnghiện hành làm việc, và không cần thay đổi, hãy cânnhắc điều này. Samba đã giành được thông tin đó chỉvì, một lần nữa, 2 thứ đã xảy ra: một phí truy cậpmột lần đã được chi trả, và một Đức mẹ Chúa trờiCổ tích đã xuất hiện để trả tiền đó”. Đây làbài học cho tất cả để đấu tranh sao cho các chuẩnmở phải đi với RF, nhất quyết không FRAND!!!.

Những độc giảthường xuyên của cột báo này sẽ biết rằng tôi thườngviết về những vấn đề của các tiêu chuẩn mở vàviệc cấp phép FRAND vs. RF. Một cột báo đặc biệt đãkhai thác lĩnh vực này đã xuất hiện trở lại vào tháng10/2010.

Tôi có quan tâm thấyrằng nó được trích trong tài liệu được StephenMutkoski viết, Giám đốc Chính sách Toàn cầu, Tập đoànMicrosoft. Tài liệu đó được tham chiếu và thảo luậnngắn gọn trong một bài viết mới của Mutkoski với đầuđề “Mua sắm công về CNTT-TT: Bóc trần những chuyệnthần thoại xung quanh phần mềm nguồn mở (PMNM) và cácTiêu chuẩn Mang Phí bản quyền” (khiêu khích đấy chứ?).Bạn sẽ không ngạc nhiên rằng tôi có một ít bình luậnvề điều đó.

Đây là trích đoạntừ bài đó:

Phí bản quyền củabằng sáng chế trong các tiêu chuẩn không hạn chế thịtrường đối với các giải pháp CNTT-TT nguồn mở vànhững người ra quyết định của chính phủ nên từ chốilời kêu gọi cho “sân chơi bình đẳng cho nguồn mở”thông qua các chính sách mua sắm mà tìm cách hạn chế cáctiêu chuẩn chứa chi phí bản quyền khỏi sự xem xéttrong mua sắm công.

Vâng,tôi phải cho Mutkoski những điểm về sự trung thực đangthú nhận rằng Microsoft không muốn một “sân chơi bìnhđẳng cho nguồn mở” - thứ gì đó hầu hết chúng tacòn khá nghi ngờ. Nhưng lý lẽ chính của ông ta làtrong tài liệu được tham chiếu tới, nên tôi sẽ chủyếu đề cập tới ở đây.

Phần I là về “Bóctrần chuyện thần thoại: FRAND “Phân biệt đối xửchống lại” các lập trình viên FOSS”, và đây là lýlẽ chính:

Regularreaders of this column will know that I often write about the issuesof open standards and FRAND vs. RF licensing. One particular columnthat explored this area appearedback in October 2010.

Iwas interested to see that it was quoted in a paperwritten by Stephen Mutkoski, Global Policy Director, MicrosoftCorporation. That paper was referenced and discussed briefly in a newpostby Mutkoski entitled "Public Procurement of ICT: Debunking Mythsaround Open Source Software and Royalty Bearing Standards"(provocative, lui?). You will not be surprised that I have a fewcomments to make on these.

Here'sthe abstract of that post:

Patentroyalties on standards are not restricting the market for open sourceICT solutions and government policy makers should resist calls to“level the playing field for open source” through procurementpolicies that seek to eliminate royalty bearing standards f-romconsideration in public procurement.

Well,I have to give Mutkoski points for honesty is admitting thatMicrosoft does not want a "level playing field for open source"- something most of us rather suspected. But his main argument is inthe paper referred to, so I shall chiefly address that here.

PartI is about "Debunking the Myth: FRAND “Discriminates against”FOSS Developers", and this is the key argument:

nếu FRAND xung độtvới yêu sách của FOSS là đúng, thì chúng ta có thể mongđợi thấy một “vùng chết của sự triển khai thựchiện” trong thế giới FOSS xung quanh các lĩnh vực cáctiêu chuẩn đó (và rằng “vùng chế” có thể có khảnăng mở rộng vượt xa ra ngoài thuần túy miền các tiêuchuẩn, vì có thể có những lĩnh vực đổi mới sáng tạokhác không cơ bản cho sự triển khai các tiêu chuẩn nơimà các lập trình viên FOSS có thể không có khả năngbước đi). Nhưng quan trọng hơn, chúng ta cũng có thểmong đợi thấy những đánh giá tác động chi tiết từvô số những người đóng góp cho FOSS trên thế giới,xác định các tiêu chuẩn đặc thù mà chúng không có khảnăng triển khai và trong thực tế không triển khai đượcnhư là hậu quả của sự đình trệ được yêu sách giữaFRAND và FOSS. Nhưng chúng ta không thấy sự thiếu triểnkhai các tiêu chuẩn của các lập trình viên FOSS cũngkhông thấy bất kỳ sự khớp nối nào của các tiêuchuẩn đặc thù (các lĩnh vực không được tiêu chuẩnhóa của đổi mới sáng tạo nơi mà các chi phí bảnquyền của các bằng sáng chế phải được trả tiền)nơi mà vô số các công ty FOSS thành công bị loại trừkhỏi việc triển khai công nghệ.

“Những vùng chếtcủa triển khai thực hiện” như vậy sẽ không đượcthấy vì lý do đơn giản là nguồn mở gắn sâu sắc vớiInternet - nó đã trang bị cho nó và được nó trang bịcho. Chủ yếu, Internet là một vùng tự do với FRAND - W3Ckhẳng định trong những giấy phép RF cho các tiêu chuẩncủa mình. Vì thế nguồn mở đã và đang hiếm khi đốimặt với các tiêu chuẩn FRAND mà nó có lẽ muốn triểnkhai.

Sự tăng trưởngnhanh và sức mạnh ngạc nhiên của Internet trong thực tếlà một trong những tham số mạnh nhất cho RF hơn làFRAND, và chứng minh rằng những lĩnh vực nơi mà FRAND đãphải chịu đựng như một kết quả. Điều đó giảithích vì sao quan trọng sống còn cho các tiêu chuẩn vềtính tương hợp sẽ là RF không FRAND - sao cho sự đổimới sáng tạo nhanh y hệt có thể diễn ra. Đó là vấnđề vì sự thành công của nguồn mở có nghĩa là bâygiờ nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực truyềnthống hơn ở những nơi mà việc cấp phép FRAND là phổbiến hơn. Nó cũng giải thích vì sao chưa có nhiều trườnghợp cho tới nay ở những nơi FRAND từng là một vấn đề.Nhưng điểm về việc tạo khung chính sách là để chuẩnbị cho tương lai, chứ không khóa những người đổi mớisáng tạo của ngày mai vào quá khứ.

ifthe FRAND conflicts with FOSS claim were true, we would expect to seea “dead zone of implementation” in the FOSS world around theseareas of standards (and that “dead zone” would likely extend farbeyond merely the domain of standards, since there would be otherareas of innovation not essential to the implementation of standardswhe-re FOSS developers would be unable to tread). But moreimportantly, we would also expect to see detailed impact assessmentsf-rom the world’s numerous FOSS distributors, identifying thespecific standards that they are unable to implement and in fact donot implement as a consequence of the claimed deadlock between FRANDand
FOSS. But we see neither a lack of implementation of standardsby FOSS developers nor any articulation of specific standards (ornon-standardized areas of innovation whe-re patent royalties must bepaid) whe-re the numerous successful FOSS companies are precluded f-romimplementing technology.

Such"dead zones of implementation" aren't seen for the simplereason that open source is intimately bound up with the Internet - ithas both powered it and been powered by it. Crucially, the Internetis a FRAND-free zone - the W3C insists on RF licences for itsstandards. So open source has rarely been faced with FRAND standardsthat it might want to implement.

Therapid growth and amazing power of the Internet is in fact one of thestrongest arguments for RF rather than FRAND, and proof that areaswhe-re FRAND is more have suffered as a result. That's why it'scrucially important for interoperability standards to be RF not FRAND- so that the same rapid innovation can take place. That's an issuebecause the success of open source means that it is now being used inmore traditional areas whe-re FRAND licensing is more common. It'salso why there haven't been many cases so far of whe-re FRAND has beenan issue. But the point about framing policy is to prepare for thefuture, not lock tomorrow's innovators into the past.

Phần II của tài liệunói đưa ra “Bằng chứng gia tăng rằng FRAND và FOSS làTương thích”, và trích dẫn:

vài sự việc nơi màcác nhà phân phối FOSS đã trả tiền chi phí bản quyềnbằng sáng chế, hoặc đặc biệt trong các tiêu chuẩnhoặc trong các công nghệ không được tiêu chuẩn hóakhác mà sẽ được kết hợp vào trong các chào hàng FOSScủa họ, mà rõ ràng làm xói mòn yêu sách rằng FRAND loạitrừ triển khai FOSS đối với các công nghệ:

Nhà phân phối LinuxRed Hat đã tham gia vào các giấy phép có chi phí bản quyềntrong ít nhất 2 trường hợp, với những người nắm giữbằng sáng chế Firestar và Acacia, để đề cập tới nhữngphân phối các sản phẩm FOSS của Red Hat.

Nhà phân phốiCanonical trả tiền chi phí bản quyền bằng sáng chếtrong mối quan hệ với giấy phép của mình cho tiêu chuẩnH.264 mà nó triển khai trong hệ điều hành Ubuntu.

Roku, Inc, trả tiềnchi phí bản quyền trong mối quan hệ với giấy phép chotiêu chuẩn H.264 của mình mà nó triển khai trong các thiếtbị settop box dựa trên Linux.

Có nhiều vô số vụkiện vi phạm bằng sáng chế có liên quan tới nền tảngAndroid, mà Herman đã dự báo trước có thể được giảiquyết thông qua các giấy phép bằng sáng chế có chi phíbản quyền.

Hãy nhìn vào nhữngđiều này.

Tôi đã thảo luậntrước hết về điều này trong cột báo tháng 10/2010 củatôi. Điểm chính là Red hat đã trả một khoản tiền đểbao trùm tất cả các dự án nguồn mở, chứ không chỉsử dụng của riêng mình. Nói cách khác, Red Hat đã hànhđộng như một Đức mẹ Chúa trời Cổ tích cho cộngđồng nguồn mở. Tôi sẽ quay lại điểm này vào cuốicủa bài viết.

Việc câp phép củaCanonical chỉ áp dụng cho các bản sao được cài đặttrước của Ubuntu: điều đó có nghĩa là một giấy phépcho một bản sao có thể được trả tiền, vì điều đósẽ là hạn chế và tính được. Vụ làm ăn không ápdụng cho Ubuntu nói chung, và vì thế không phải là mộtví dụ về cách mà việc cấp phép có chứa phí bảnquyền là tương thích với phần mềm tự do, mà làm việcvới việc cấp phép để bán phần cứng.

PartII of the paper claims to offer "Growing Evidence that FRAND andFOSS are Compatible", and cites:

severalinstances whe-re FOSS distributors have paid patent royalties, eitherspecifically on standards or on other non-standardized technologiesthat are incorporated into their FOSS offering(s), which clearlyundermine the claim that FRAND precludes FOSS implementation oftechnologies:

Linuxdistributor Red Hat has entered into royalty bearing licenses on atleast two occasions, with patent holders Firestar and Acacia, tocover distributions of Red Hat’s FOSS products.

Linuxdistributor Canonical pays a patent royalty in connection with itslicense for the H.264 standard that it implements in its Ubuntuoperating system.

Roku,Inc., pays a royalty in connection with its license for the H.264standard that it implements in its Linux-based set top box devices.

Thereare numerous patent infringement lawsuits related to the Androidplatform, which Herman predicted would be resolved via royaltybearing patent licenses.

Let'slook at these in turn.

Ihave discussed the first of these in my October 2010 column. The keypoint is that Red Hat paid a lump sum to cover all open sourceprojects, not just its own use. In other words, Red Hat acted as aFairy Godmother to the open source community. I'll return to thispoint at the end of this post.

TheCanonical licensing only applies to pre-installedcopies of Ubuntu: that means a per-copy licence can be paid,since these are limited and countable. The deal does not apply toUbuntu in general, and therefore is not an example of howroyalty-bearing licensing is compatibility with free software, but todo with the licensing for hardware sales.

Roku cũng là một hệthống phần cứng, và là tương tự đối với các phiênbản cài đặt trước của Ubuntu mà đi với giấy phépH.264.

Ví dụ thú vị nhấtmà Mutkoski trích dẫn là cái sau cùng, vì, tất nhiên,những thứ “vô số các vụ kiện vi phạm bằng sáng chếcó liên quan tới nền tảng Android” chủ yếu Microsoftđang vẽ ra những vụ làm ăn với một loạt các nhà sảnxuất Android. Như tôi đã chỉ ra đâu đó, chúng ta khôngbiết những điều khoản của những vụ làm ăn đó, màcó thể, về lý thuyết, thậm chí có liên quan tới việcMicrosoft trả tiền cho các nhà sản xuất, ít nhất bằnghiện vật. Vì sao nó có thể làm thứ gì đó điên rồnhư vậy được? Chính xác vì nó có thể nói - như ởđây - rằng Android vi phạm các bằng sáng chế củaMicrosoft, và cũng, như là một phần thưởng, rằng phầnmềm tự do là tương thích với việc cấp phép như vậy.

Nhưng chỉ vì Samsungcó thiện chí chấp nhận bất kỳ điều khoản bí mậtnào mà Microsoft đang chào, không có nghĩa rằng nói chungphần mềm tự do giảng hòa với các giấy phép có chi phíbản quyền - đây là một sự ngoại suy hoàn toàn vô lý.

TheRoku is a also hardware system, and is similar to the pre-installedversions of Ubuntu that come with an H.264 licence.

Themost interesting example that Mutkoski cites is the last one,because, of course, those "numerous patent infringement lawsuitsrelated to the Android platform" are largely Microsoft drawingup deals with various Android manufacturers. As I've pointedout elsewhe-re, we don't know the terms of those deals, whichcould, theoretically, even involve Microsoft paying themanufacturers, at least in kind. Why would it do something as crazyas that? Precisely so that it could claim - as here - that Androidinfringes on Microsoft's patents, and also, as a bonus, that freesoftware is compatible with such licensing.

Butjust because Samsung is willing to accept whatever secret termsMicrosoft is offering, doesn't mean that in general free software canalways be reconciled with royalty-bearing licences - its a completelyunjustified extrapolation.

Phần cuối cùng tàiliệu của Mutkoski có đầu đề “Những người bảo vệFOSS thừa nhận “FRAND phân biệt đối xử chống lạiFOSS” Câu thần chú Không Đúng” - mà trong trường hợpcủa tôi ít nhất, là sai.

Đây là đoạn chính:

Câu hỏi mà dườngnhư không bao giờ giải quyết được dù là liệu có bấtkỳ việc cấp phép thực sự nào xung đột giữa cái gọilà các điều khoản FRAND (bao gồm cả phí bản quyền) vànhiều mô hình cấp phép FOSS hoặc liệu đối nghịch vớiđiều này có chỉ là một vấn đề của sự phản đốivề mặt triết học các bằng sáng chế phần mềm (cóthể cho rằng một lòng tin được giữ rộng rãi trong sốcác lập trình viên FOSS. Khi bị ép vào điểm này, Moodythừa nhận trên blog “hãy để tôi là rõ: bằng điềuđó tôi không ngụ ý không tương thích về pháp lý”.Katz thực hiện một sự nhượng bộ trong bài trên Twittercủa ông với Moody: “nó phụ thuộc vào những gì bạnngụ ý với các giấy phép RAND [-] Có khả năng để phácthảo một giấy phép tương thích”. Moody đi tiếp gợi ýrằng thậm chí nếu hầu hết hoặc tất cả các giấyphép FOSS là tương thích về pháp lý với FRAND, thì FRANDlà “không tương thích trong thực tế' với FOSS.

Hãy nhìn vào nhữnggì tôi đã viết:

Một lần nữa, nhưtôi và nhiều người khác đã chỉ ra, giải pháp của BSA- “một phí chấp nhận được” - đơn giản không tươngthích với các giấy phép hàng đầu của phần mềm tựdo. Và hãy để tôi làm rõ: bằng điều đó tôi không ngụý không tương thích về pháp lý, tôi ngụ ý không tươngthích trong thực tiễn, vì điều này không có khả năngđể tính cho thứ không tính được vì những người sửdụng dòng dưới không biết được.

Thefinal section of Mutkoski's paper is entitled "FOSS AdvocatesConcede the “FRAND discriminates against FOSS” Mantra is NotTrue" - which in my case at least, is false.

Here'sthe key passage:

Thequestion that never seemed to be resolved though is whether there isany real licensing conflict between so-called FRAND terms (includinga royalty) and the many FOSS licensing models or whether by contrastthis is just a matter of philosophical objection to software patents(arguably a widely held belief among FOSS developers. When pressed onthis point, Moody concedes in a blog post “let me be clear: by thatI do not mean legally incompatible.” Katz makes a similarconcession in his Twittersation with Moody: “it depends on what youmean by RAND licences[-] It is possible to draft a compatiblelicence.” Moody went on to suggest that even if most or all FOSSlicenses are legally compatible with FRAND, FRAND is “incompatiblein practice” with FOSS.

Solet's look at what I wrote:

Again,as I and many others have pointed out, the BSA solution - “areasonable fee” - is simply not compatible with leading freesoftware licences. And let me be clear: by that I do not mean legallyincompatible, I mean incompatible in practice, because it is notpossible to account for the uncountable because unknown downstreamusers.

Những gì tôi ngụ ýthậm chí giả thiết rằng “một chi phí hợp lý” làtương thích về pháp lý - và IANAL, nên tôi có thiện chítrao điều có thể có khả năng thông qua việc lên khungthận trọng - đơn giản nó không có trong thực tiễn. Vàbạn không phải là một luật sư để thấy vì sao: môhình phân phối không hạn chế của nguồn mở có nghĩalà nó không có khả năng để giữ các tab trong việc cóbao nhiêu bản sao đã được làm ra, và vì thế không cókhả năng trả tiền cho một giấy phép cho mỗi bản sao.Điều đó quá đơn giản, logic không thể cãi nổi, mà làvì sao tôi đã tập trung vào tuyên bố mạnh hơn nhiềunày, hơn là một tuyên bố về tính hợp pháp của nhữngthỏa thuận như vậy, mà cuối cùng là để cho các tòaán quyết định. Nhưng có thể khôngnghi ngờ rằng FRAND phân biệt đối xử chống lại phầnmềm tự do.


WhatI meant there was evenassuming that "areasonable fee" was legally compatible - and IANAL, so I'mwilling to grant that it might be possible through careful framing -it simply isn't in practice. And you don't have to be a lawyer to seewhy: the unrestricted distribution model of open source means that itis impossible to keep tabs on how many copies have been made, and soit is impossible to pay a per-copy licence. That is just simple,inarguable logic, which is why I concentrated on this much strongerstatement, rather than one about the legality of such arrangements,which are ultimately for courts to decide. But there can be no doubtthat FRAND discriminates against free software.

Mutkoski tiếp tục:

Moody đã bỏ thờigian trau truốt về những gì ông ta ngụ ý “không tươngthích trong thực tiễn” và các bình luận của ông ta gợiý rằng sự phàn nàn thực sự với FRAND là vì “cáccông ty nhỏ hơn là ... ở trong sự bất lợi trong tìnhhuống này khi họ không có khả năng chi tiền cho các giấyphép dễ dàng như các công ty lớn”. Nhưng điều nàykhông có gì để làm với FOSS và chỉ là sự chơi lạicác lý lẽ chống lại các bằng sáng chế mà đã đượclặp đi lặp lại đưa ra và từ chối. Quan trọng hơn, cónhiều công ty thành công, cả lớn và nhỏ, mà đã cấpphép cho các bằng sáng chế, dù có liên kết với các sảnphẩm FOSS hay các sản phẩm họ phân phối theo các giấyphép thương mại truyền thống.

Những tuyên bố đólà bằng chứng mạnh mẽ rằng, khi bị ép giải thích vàchứng minh rằng FOSS và FRAND không thể cùng tồn tại vìnhững yêu cầu trong các giấy phép của FOSS, những ngườibảo vệ chính của kêu ca này đã thừa nhận điều đóđơn giản là không đúng. Đó là một điểm quan trọng:tất cả những người bảo vệ FOSS đang gợi ý rằng cácbằng sáng chế dường như là trở ngại cho một số lậptrình viên mà không thể trả tiền phí bản quyền (mà làđúng bất chấp lập trình viên đó sử dụng các giấyphép FOSS hay không) và thừa nhận không có rào cản tuyệtđối nào cho các lập trình viên FOSS như là kết quả củanhững hạn chế trong các giấy phép FOSS.

Như các dự án phầnmềm tự do định tính là khác đối với các công ty nhỏhơn hoặc các lập trình viên có sử dụng các giấy phépphần mềm thông thường. Đối với thứ sau, các phí giấyphép có thể được giảm thiểu tới một mức mà họ cóthể trả; điều đó không có khả năng đối với nguồnmở - không có mức thanh toán theo mỗi bản sao mà có thểsắp đặt được vì nguồn mở cho phép phần mềm đượcsao chép tự do, và vì thế không kiểm soát được.

Mutkoskigoes on:

Moodyspent some time elaborating on what he meant by “incompatible inpractice” and his comments suggest that his real gripe with FRANDis that “Smaller companies are ... at a disadvantage in thissituation when they cannot afford to pay licences as easily as bigcompanies.” But this has nothing to do with FOSS and is just areplaying of arguments against patents per se that have beenrepeatedly raised and rejected. More importantly, there are manysuccessful companies, large and small, that have licensed patents,whether in connection with FOSS products or products that theydistribute under traditional commercial licenses.

Thesestatements are powerful evidence that, when pressed for explanationand proof that FOSS and FRAND cannot co-exist due to requirements inFOSS licenses, key advocates of this claim have admitted it is simplynot true. That is an important point: all these FOSS advocates aresuggesting is that patents appear to be an impediment for somedevelopers who cannot pay royalties (which is true whether thedeveloper uses FOSS licenses or not) and conceding there is noabsolute bar for FOSS developers as a result of restrictions in FOSSlicenses.

Butfree software projects are qualitatively different f-rom smallercompanies or developers using conventional software licences. For thelatter, the licence fees can be reduced to a level such that they canpay; that's not possible for open source - there is no level ofper-copy payment that can be accommodated because open source allowssoftware to be copied freely, and hence uncontrollably.

Phát hiện ra rằngmột lần nữa Mutkoski thể hiện sự coi thường của ôngta về “sân chơi cào bằng” và nhấn mạnh lòng tin củaông ta rằng các công ty lớn nên được phép sử dụngnhững vị thế sức mạnh được thiết lập của họ đểđóng cửa đổi mới sáng tạo đối với những ngườimới tới. Điều đó có thể được mong đợi từ ai đólàm việc cho một công ty mà đã có tội lạm dụng vịthế độc quyền của mình ở cả 2 bờ Đại Tây Dương.

Hành động chống độcquyền của EU là rất lộ liễu - và phù hợp - theo cáchnày. Đây là những gì đã xảy ra:

Trong năm 2004 Ủy banchâu Âu đã thấy Microsoft có tội lạm dụng độc quyềntrong thị trường CNTT và đã yêu cầu rằng hông tin cótính tương hợp hoàn toàn sẽ được làm cho sẵn sàngcho các đối thủ cạnh tranh. Microsoft đã từ chối quyếtđịnh này và đã bị gạt bỏ vào năm 2007 bởi Tòa ánSơ thẩm châu Âu (CFI). CFI đã thấy Microsoft có tội gâytrở ngại có chủ ý đối với tính tương hợp và đãduy trì bổn phận đối với Microsoft phải chia sẻ thôngtin về giao thức của hãng.

ĐộiSamba đã quyết định sử dụng bổn phận của Microsofttheo những phán xử của châu Âu. Thông qua Quỹ Thông tinTự do Giao thức (PFIF), thông tin về tính tương hợp mạngđã được yêu cầu và một phí truy cập một lần 10.000euro đã được trả để trao cho đội Samba sự truy cậpđầy đủ tới các đặc tả quan trọng.

Đây là một ví dụtuyệt vời về vì sao điều này không chỉ là về cáccông ty lớn vs. các công ty nhỏ. Samba không phải là côngty nhỏ, và không có quỹ, và nó đã tạo ra và tiếp tụcphát triển một trong những mẩu phần mềm được sửdụng rộng rãi nhất trên thế giới. Theo Mutkoski, có lẽchấp nhận tuyệt vời rằng nhóm này là những ân nhậncủa công chúng - vì đó là những gì họ là - nên đượctừ chối truy cập tới những thông tin chủ chốt do mộtcông ty nắm mà đã được thấy đã lạm dụng sự độcquyền của mình, đơn giản vì nhóm đó không có ngânsách. Và điều đó, nói chung, là những gì sẽ xảy ranếu các tiêu chuẩn mở được phép là FRAND, chứ khôngphải RF.

It'srevealing that once more Mutkoski displays his contempt for"levelling the playing fields", and emphasises his beliefthat large companies should be allowed to use their establishedpositions of power to shut out innovative newcomers. That's probablyto be expected f-rom someone working for a company that was foundguilty of abusing its monopoly position on both sides of theAtlantic.

TheEU anti-trust action is very revealing - and relevant - in thisregard. Here's what happened:

In2004 the European Commission found Microsoft guilty of monopoly abusein the IT marketplace and demanded that complete interoperabilityinformation be made available to competitors. Microsoft objected tothis decision and was overruled in September 2007 by the EuropeanCourt of First Instance (CFI). The CFI found Microsoft guilty ofdeliberate obstruction of interoperability and upheld the obligationfor Microsoft to share its protocol information.

TheSamba Team has decided to make use of Micrsoft's obligation under theEuropean judgements. Through the Protocol Freedom InformationFoundation (PFIF), network interoperability information has beenrequested and a one-time access fee of 10.000 EUR is being paid togive Samba team full access to important specifications.

Thisis a perfect example of why this is not just about big companiesversus little companies. Samba is not a company, and has no funds,and yet it has cre-ated and continues to develop one of the mostwidely-used pieces of software in the world. According to Mutkoski,it should be perfectly acceptable that this group of publicbenefactors - for that is what they are - should be denied access tokey information held by a company that was found to have abused itsmonopoly, simply because that group has no funds. And that, ingeneral, is what will happen if open standards are allowed to beFRAND, and not RF.

Vàđối với lý lẽ rằng Samba đã làm, quả thực, giànhđược thông tin về tính tương hợp chủ chốt đó, màchứng minh cho hệ thống hiện hành làm việc, và khôngcần thay đổi, hãy cân nhắc điều này. Samba đã giànhđược thông tin đó chỉ vì, một lần nữa, 2 thứ đãxảy ra: một phí truy cập một lần đã được chi trả,và một Đức mẹ Chúa trời Cổ tích đã xuất hiện đểtrả tiền đó.

Những điểm mấuchốt là, một lòng tin rằng các công ty sẽ luôn luônđảm bảo các phí một lần, và rằng Đức mẹ Chúa trờiCổ tích sẽ luôn luôn thần diệu bật lên đúnglúc để cứu các dự án nguồn mở mà nếu khác đi sẽbị loại trừ khỏi các khu vực chính, không phải là nềntảng cho việc làm chính sách của châu Âu. Ủy ban châuÂu phải lên kế hoạch trên cơ sở thực tế, chứ khôngphải thứ viển vông. Cách hợp lý duy nhất để bảo vệcác dự án nguồn mở và cho phép chúng tiếp tục thựchiện những đóng góp của chúng cho xã hội là hãy nhấtquán về RF, chứ không phải việc cấp phép FRAND đốivới các tiêu chuẩn mở.


Tất nhiên, có mọtlựa chọn mà Mutkowski có lẽ thích cân nhắc: rằngMicrosoft cam kết một cách không thể hủy bỏ, vĩnh viễnvà vô điều kiện nắm lấy vai trò của Đức mẹ Chúatrời Cổ tích bằng việc bao tất cả các phí FRAND mà cóthể được yêu cầu từ bất kỳ dự án nguồn mở nàocho việc triển khai các tiêu chuẩn mở.

Andto the argument that Samba did, indeed, obtain that keyinteroperability information, which proves the current system works,and doesn't need changing, consider this. Samba obtained thatinformation only because, once more, two things happened: a one-timeaccess fee was c-harged, and a Fairy Godmother appeared to pay it.

Butthe point is, a belief that companies will alwaysgrant one-time fees, and that Fairy Godmothers will alwaysmagically turn up in the nick of time to save open source projectsthat otherwise will be excluded f-rom key sectors, is not a basis forEuropean policy making. The European Commission must plan on thebasis of reality, not fantasy. The only rational way of protectingopen source projects and allowing them to continue to make theircontributions to society is to insist on RF, not FRAND licensing foropen standards.

Ofcourse, there is an al-ternative which Mutkowski may like to consider:that Microsoft commits irrevocably, perpetually and unconditionallyto take on the role of Fairy Godmother by covering all FRAND feesthat may be demanded f-rom any open source project for implementingopen standards.

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

letrungnghia.foss@gmail.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Về Blog này

Blog này được chuyển đổi từ http://blog.yahoo.com/letrungnghia trên Yahoo Blog sang sử dụng NukeViet sau khi Yahoo Blog đóng cửa tại Việt Nam ngày 17/01/2013.Kể từ ngày 07/02/2013, thông tin trên Blog được cập nhật tiếp tục trở lại với sự hỗ trợ kỹ thuật và đặt chỗ hosting của nhóm phát triển...

Bài đọc nhiều nhất trong năm
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập52
  • Hôm nay3,244
  • Tháng hiện tại251,433
  • Tổng lượt truy cập18,047,198
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây