Tóm tắt lịch sử của Linux và vũ trụ (Phần 2)

Thứ bảy - 14/06/2008 06:52

A brief history of Linux and the cosmos

Posted Ric-hard Hillesley at 3:27PM, 5th June 2008

Theo: http://www.itpro.co.uk/features/203967/a-brief-history-of-linux-and-the-cosmo...

Bài được đưa lên Internet ngày: 05/06/2008

Lời người dịch: “Linux là chuẩn de facto cho sự lựa chọn đối với các hệ thông máy tính tốc độ thực thi cao HPC (High Performance computing). Ai đó có thể gọi tên Solaris, HPUX, OSX và Windows như các giải pháp thay thế, nhưng cơ sở về người sử dụng của chúng là bé tí so với cộng đồng những người sử dụng Linux (trong các môi trường liên quan tới HPC) do bản chất của sở hữu độc quyền của các hệ điều hành này. Một vài thứ trong số đó có thể là lựa chọn tốt hơn Linux trong các lĩnh vực cụ thể nào đó, nhưng không phải là cho dạng sử dụng của VŨ TRỤ, với dải rộng lớn các ứng dụng và nhiệm vụ nghiên cứu của nó... Từ quan điểm của đội hỗ trợ VŨ TRỤ, sẽ không có giải pháp thay thế cho Linux như một lựa chọn của hệ điều hành cho các ứng dụng HPC”. Vâng, như vậy là đã rõ, với các ứng dụng HPC trong VŨ TRỤ thì Linux là thống soái và là thứ không thể thay thế được! Không Solaris, không HPUX, không OSX và cũng không Windows! Còn bạn có nghĩ như vậy không?

Được biết, trước kia tại Liên Xô cũ, cùng một con điện trở được sản xuất ra, sẽ được phân thành 3 loại: Loại để sử dụng trong Vũ trụ, loại để sử dụng trong quân đội là cuối cùng là loại để sử dụng trong các thiết bị dân dụng, trong đó con điện trở để sử dụng trong Vũ trụ có chất lượng cao nhất. Nếu theo logic này, tự bạn có thể đánh giá được, hệ điều hành nào là có chất lượng cao nhất.

“Để phân tích và xử lý hàng terabytes các dữ liệu cơ bản cho dự án, COSMOS thuê một hệ thống SGI Altix chạy Linux. Hệ thống này đặc trưng bởi bộ nhớ được chia sẻ toàn cầu có liên kết dựa trên các bộ nhớ cache, bộ nhớ lưu trữ theo cấp và nhìn thấy được tích hợp, và phụ thuộc mạnh mẽ vào đầu tư hiện hành từ Uỷ ban Nghiên cứu”. Điều này có nghĩa rằng Linux có khả năng xử lý số lượng dữ liệu khổng lồ hàng terabytes, điều mà nhiều chuyên gia công nghệ thông tin Việt Nam vẫn chủ quan mà cho rằng nguồn mở không thể xử lý được dữ liệu lớn và chuyên nghiệp. Với bài viết này, hy vọng rằng chúng ta sẽ có cái nhìn ngược lại.

Xem thêm bài: “NASA mang nguồn mở vào vũ trụ” (http://blog.360.yahoo.com/blog-LU.CUQA9b6gRyol5jVT.?p=1629).

Hawking cũng là một trong những nhà vật lý học lý thuyết sáng chói nhất thời của ông, và giữ danh hiệu nhà nghiên cứu nguyên lý cho dự án COSMOS, mà nó tập hợp một nhóm các nhà vũ trụ học nhiều quốc gia, được biết tới như là Consortium tính toán vũ trụ học của Anh quốc – UK-CCC, mà nó có mục tiêu cao ngất về theo đuổi bản chất cuộc sống, vũ trụ và mọi thứ, và được tập trung trên một phương tiện siêu máy tính Altix dựa trên Linux.

Consortium này tập hợp các nhà vũ trụ học và các nhà vật lý vũ trụ từ Cục về Toán học ứng dụng và Vật lý lý thuyết, Viện Vũ trụ học, và Phòng thí nghiệm Cavendish ở Đại học Cambridge, Trường Cao đẳng Hoàng gia Luân Đôn, Các trường đại học của Postmouth và Sussex, và các cơ quan nghiên cứu có liên quan khác.

Trong những ngày đầu của dự án này Howking đã công bố rằng COSMOS “sẽ cho phép chúng ta tính toán những gì các nhà lý thuyết của chúng ta về vũ trụ trước đây đã tiên đoán, và thử nghiệm chúng đối lại các kết quả khảo sát mới mà chúng bây giờ sẽ tới”. Nghiên cứu vũ trụ trong bản chất gốc của vũ trụ và cuộc sống như chúng ta đã biết vẫn còn là lĩnh vực ít được nghiên cứu nơi mà nước Anh vẫn dẫn đầu thế giới.

Hawking is also one of the more brilliant theoretical physicists of his time, and holds the title of principal investigator for the COSMOS project, which consists of a nationwide group of cosmologists, known as the UK Computational Cosmology Consortium (UK-CCC), which has the lofty aim of chasing down the origin of life, the universe and everything, and is centred on a Linux-based Altix supercomputing facility.

The consortium comprises particle cosmologists and astrophysicists f-rom the Department of Applied Mathematics and Theoretical Physics, Institute of Astronomy, and Cavendish Laboratory at Cambridge University, Imperial College London, the Universities of Portsmouth and Sussex, and other interested research establishments.

In the early days of the project Hawking declared that COSMOS "will enable us to calculate what our theories of the early universe predict, and test them against the new observational results that are now coming in." Cosmological research into the origins of the universe and life as we know it remains a rare field of research whe-re Britain still leads the world.

The beginning of the end

Sự bắt đầu của kết thúc

Dự án COSMOS tìm kiếm để khai phá những giới hạn của ngàn xưa và các lý thuyết biên giới hạn của tri thức con người về bản chất gốc của cuộc sống và vũ trụ, một lĩnh vực mà đã được “tin tưởng bở một thặng dư của lý thuyết và không đủ dữ liệu”. Lĩnh vực chủ chốt của UK-CCC là khai phá khoa học về nền tảng sóng cực ngắn của vũ trụ – CMB (Cosmic Microwave Background), bức xạ di hài còn sót lại từ vụ nổ Big Bang.

Sự tranh luận về lý thuyết Big Bang là khoảng 14 triệu năm về trước thiên hà này là nóng và đậm đặc, những vụ nổ khủng khiếp bùng nổ và phát ra vật chất bức xạ mà nó dẫn tới việc phân tán các thiên hà và làm lạnh các đám mây khí mà chúng có thể thấy được từ những quan sát thiên văn học của chúng ta ngày nay. Vụ nổ Big Bang này để lại trên sóng của nó một dòng bức xạ mà nó bao phủ thiên hà, và tạo ra những đầu mối cho các nhà vật lý học về bản chất gốc ban đầu của các thiên hà và các vì sao, và sự phân tán vật chất xung quan thiên hà đó.

The COSMOS project seeks to explore the limits of eternity and the theories at the boundaries of human knowledge about the origin of life and the universe, an area that has been "bedevilled by a surplus of theories and not enough data". A key research area of UK-CCC is the scientific exploration of cosmic microwave background (CMB), the relic radiation left over f-rom the Big Bang.

The contention of the Big Bang theory is that some 14 billion years ago the universe was hot and dense, exploded, and released powerful bursts of radiation matter which led to the dispersing galaxies and cooling gas clouds that can be seen f-rom our astronomical observatories today. The Big Bang left in its wake a wash of radiation that covers the universe, and gives clues to physicists about the origins of galaxies and stars, and the dispersal of matter around the universe.

The project is closely linked to the European Space Agency, and derives much of its data f-rom information garnered f-rom satellites. The researchers started out with three primary objectives. In a simplified form, these were:

Dự án này được liên kết chặt chẽ tới Cơ quan Vũ trụ Châu Âu (European Space Agency), và nhận được nhiều dữ liệu từ các thông tin thu thập được từ các vệ tinh. Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu với 3 đối tượng ban đầu. Ở dạng đơn giản hoá, đó là:

  • Tích luỹ và phân tích các dữ liệu từ một loạt các nguồn để nhận thức được hình ảnh chụp nhanh của thiên hà như nó đã có từ 300,000 tới 400,000 năm sau vụ nổ big bang.

  • “Để sử dụng tiện ích các dữ liệu vũ trụ mà nó đang tới theo luồng” để xây dựng các mô hình của thiên hà dựa trên các lý thuyết đang tồn ại của bản chất gốc ban đầu của cuộc sống, và đưa chúng ra với các điều kiện được nhận biết của hiện tại, thử nghiệm và chỉnh sửa các lý thuyết đối với các dữ liệu được biết, và chứng minh hoặc phản chứng minh tính hợp lệ của chúng đối với các yếu tố đã được thiết lập.

  • Để tuân theo sự định hình và phân tán của các thiên hà, và xác định bản chất gốc ban đầu của chúng, và xác định “kích thước và hình dáng và các thành phần của thiên hà”.

● To accumulate and analyse data f-rom a variety of sources to realise a snapshot of the universe as it was 300,000 to 400,000 years after the big bang.

● "To utilise the cosmological data that is coming on-stream" to build models of the universe based on existing theories of the origin of life, and project them forward to the known conditions of the present, testing and adjusting the theories against the known data, and proving or disproving their validity against the established facts.

● To follow the formation and dispersal of galaxies, and determine their origins, and to determine "the size and shape and ingredients of the universe".

Vệ tinh COBE, được phóng lên bởi NASA vào năm 1989, với mục đích đo “sự khuếch tán hồng ngoại và bức xạ sóng cực ngắn từ thiên hà trước kia đối với các giới hạn được thiết lập bởi môi trường vật lý vũ trụ của chúng ta”, mang theo 3 công cụ, một thiết bị đo chụp ảnh phổ hồng ngoại tuyệt đối cự ly xa FIRAS (Far Infrared Absolute Spectrophotometer) để so sánh phổ của bức xạ nền sóng cực ngắn vũ trụ với một lỗ đen chính xác, một thiết bị đo bức xạ sóng cực ngắn vi sai DMR (Differential Microwave Radiometer) để ánh xạ bức xạ vũ trụ một cách nhạy cảm, và một thiết bị thử nghiệm nền tảng hồng ngoại khuếch tán DIRBE (Diffuse Infrared Background Experiment) để tìm kiếm bức xạ nền hồng ngoại vũ trụ. Theo NASA, “Mỗi công cụ của COBE đã sản sinh ra một phát minh chính của vũ trụ học”,

The COBE satellite, launched by NASA in 1989, with the objective of measuring the "diffuse infrared and microwave radiation f-rom the early universe to the limits set by our astrophysical environment," carried three instruments, a Far Infrared Absolute Spectrophotometer (FIRAS) to compare the spectrum of the cosmic microwave background radiation with a precise blackbody, a Differential Microwave Radiometer (DMR) to map the cosmic radiation sensitively, and a Diffuse Infrared Background Experiment (DIRBE) to search for the cosmic infrared background radiation. According to NASA, "each COBE instrument yielded a major cosmological discovery."

Dịch tài liệu: Lê Trung Nghĩa

ltnghia@yahoo.com

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Chương trình 'Huấn luyện huấn luyện viên nguồn mở' - Khóa 4 - Ngày 1

  Các bài trình bày trong chương trình 'Huấn luyện huấn luyện viên nguồn mở', khóa 4, ngày đầu tiên, do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ Mở và trường Đại học Văn Lang, thành phố Hồ Chí Minh, đồng tổ chức đã diễn ra, gồm: Khóa học có sự tham gia của các giáo...

Bài đọc nhiều nhất trong năm
Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm gì nhất ở mã nguồn mở?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập99
  • Hôm nay5,369
  • Tháng hiện tại213,456
  • Tổng lượt truy cập14,557,049
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây